Thụy Lôi với lễ hội “Rước vua giả” một tiềm năng Du lịch

Loa thành bán nguyệt thành Thục sử chi kim truyền hiển tích. Quy lĩnh thiên thu trĩ, Xuân Lôi tự cổ nghiễm linh từ. Dịch rằng: Thành ốc nửa tháng xong, dấu lạ còn ngời trang Thục Sử. Núi rùa muôn thủa vững, Đền thiêng mãi rạng đất Xuân Lôi. (Ngô Linh Ngọc dịch). Câu “Đền thiêng mãi rạng đất Xuân Lôi, nay là thôn Thụy Lôi, xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Làng Thụy Lôi nằm trong vùng núi Thất Diệu hay còn gọi là Thất Diệu Sơn, có nghĩa là bảy ngọn núi linh thiêng và huyền diệu. Bảy ngọn núi này nằm trên một vùng đất bằng phẳng ở phía Bắc Thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội là 25 km. Thất Diệu Sơn từ xa nhìn lại giống như bảy con rùa mà con đầu đàn là ngọn cao nhất, dân quanh vùng gọi là núi rùa mẹ hoặc núi Sái, tên chữ là Vũ Dương Sơn hay Quy Linh Sơn. Quanh vùng Thất Diệu Sơn còn lưu giữ rất nhiều truyền thuyết, như truyện các nàng tiên gánh đất đắp thành giúp An Dương Vương. Nơi các nàng tụ họp nay gọi là Tiên Hội – Vân Canh, nơi họ chờ nhau nay là chợ Chờ – Yên Phong. Thụy Lôi là một làng lớn kéo dài từ bến sông Cà Lồ đến giáp cánh đồng làng Vân Điềm – quê hương của dòng họ Nguyễn nổi tiếng có nhiều người đỗ đạt ngày xưa. Thụy Lôi còn có các tên là làng Nhội. Kẻ Nhội hay Ma Lôi, Xuân Lôi…Núi Sái ở phía đông bắc của làng Thụy Lôi, giữa một cánh đồng rộng lớn, không xa lắm là sông Cà Lồ. Ngày xưa, trên núi có rừng lim già bao phủ, trong rừng có nhiều thú và chim quý. Tọa trên núi là đền Sái thờ đức Huyền Thiên Trấn Vũ một vị thánh tối thiêng của đạo lão. Tương truyền sau khi trừ Bạch Kê Tinh và những hồn ma, khi về đến núi Vũ Dương (núi Sái) thấy trên núi có một phiến đá in dấu chân người. Vua An Dương Vương hỏi ra thì được biết đó là đức Huyền Thiên giáng lâm vì nước trừ yêu ma, để nhân dân an cư lạc nghiệp. Vua Thục cảm kích công đức đó bèn xây “Kim Khuyết cung” đền Sái để nhang khói thờ phụng quanh năm. Tên làng Ma Lôi cũng được đổi thành Xuân Lôi từ đó. Đền Sái có bài minh bằng chữ Hán của vua Lý Thái Tổ, khắc trên một tấm bia đá lớn: “… Đức thánh đây làm rõ hiệu lệnh ở cõi Bắc, truyền để tinh thần ở cõi Nam, công đức vô cùng, anh linh mãi mãi. Trẫm theo mệnh sáng của trời, mở mang nghiệp lớn, dựng thành Thăng Long, ghi nhớ công lớn đức thiêng liêng trên núi Vũ Dương… Nay trẫm lập thêm ngôi đền nữa tại nơi đầu hồ cửa Bắc để thờ người. Bèn đến ngày mùng 5 tháng 5 thân đến đền kinh rước Duệ Hiệu về nơi kinh thờ cúng để Quốc đô thêm bền vững…”. (Niên hiệu Thuận Thiện năm thứ 2 – Ngô Linh Ngọc dịch). Trong sự tích Kim Khuyết cung có nói An Dương Vương sau khi xây cất đền Sái, hàng năm cứ tiết xuân ông và quần thần lại về đây bái yết. Nhưng sau thấy đi lại làm hao phí tiền của, công sức của dân nên đã cho phép dân làng Thụy Lôi: “Thực hành nghi việc Thiên tử, xung quanh quan tước”, theo lệnh vua mà làm cho mạch nước bền, dân cư yên ổn, mãi mãi như lệ. Lễ hội rước vua giả được hình thành từ đấy, về sau thành lập tục truyền thống sinh hoạt văn hóa độc đáo của làng Thụy Lôi và cả một vùng rộng lớn xung quanh. Hội rước vua giả của làng Thụy Lôi tổ chức hàng năm vào mùa xuân, nhằm ngày 11 tháng giêng âm lịch. Trước hội vài ngày, từ mùng 5 tháng giêng dân làng đã lo sửa sang đường xá, cầu cống để đón vua về. Những “Ông Đám”, “Ông Trò”, trình làng những: “trâu đô”, bò đô, lợn đô… đó là những trâu, bò, lợn vừa to béo, nặng, khỏe, sạch và đẹp. Ngoài ra dân làng còn làm bánh chưng bánh dày để tiến vua. Đó là những thứ bánh dân tộc được làm từ gạo nếp hoa vàng gói trong lá chít, lá mía xanh, đượm không khí xuân tết hội hè. Bánh chưng, bánh dày làng Nhôi nổi tiếng khắp vùng bởi nó vừa ngon lại gói khéo trông rất đẹp mắt… Đền Sái và lễ hội rước vua giả của làng Thụy Lôi từ lâu đã gắn liền với những trang sử của cố đô Cổ Loa, với Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội. Hội này đã được ghi vào từ điển lễ hội Việt Nam, một trong những hội làng truyền thống độc đáo nhất, có bề dày lịch sử mấy nghìn năm với bao sự tích và huyền thoại. Đền Sái của Thụy Lôi là một di tích lịch sử có giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc đáo, in đậm dấu ấn kiến trúc của người Việt Cổ. Một di tích lịch sử hiếm hoi còn lại được từ buổi đầu dựng nước. Phong cảnh quyến rũ, con người nơi đây cởi mở, đôn hậu mến khách. Đó là một tiềm năng du lịch cần được khai thác và phát triển.
Anh Đức -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (30(134))1999.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *