Hà Nội ban hành quy chế đặt

Hà Nội ban hành quy chế đặt, đổi tên đường phố, công viên, quảng trường.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội vừa ban hành quy chế đặt, đổi tên đường phố, công viên, quảng trường và công trình văn hóa trên địa bàn Thủ đô: Những đường có chiều dài trên 2.500m, mặt cắt ngang lòng đường rộng từ 10,5m trở lên, nằm trên các tuyến đường vành đai, liên tỉnh, trục chính trên địa bàn thành phố, được đặt là Đường. Những đường dài từ 500m – 2.500m, mặt cắt ngang rộng từ 7,5m trở lên, được xác định theo quy hoạch và các công trình kiến trúc (nhà ở, cửa hàng, trụ sở cơ quan) sẽ đặt phố. Tùy theo quy mô, đặc điểm cụ thể mà tên đặt cho con đường, con phố, công viên, quảng trường và công trình văn hóa có sử dụng tên các địa danh, danh nhân (kể cả danh nhân thế giới có liên quan đến Hà Nội), tên sự kiện lịch sử, tên phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Hà Nội ngàn năm văn hiến. Đáng chú ý là, ngoài những danh nhân có nhiều đóng góp cho công cuộc dựng nước dân tộc và Thủ đô, được nhân dân kính trọng; các danh nhân thuộc lĩnh vực chính trị, khoa học, quân sự… được chọn đặt tên theo nguyên tắc: đã mất trước thời điểm xét đặt tên đường phố ít nhất là 10 năm. Việc đặt, đổi tên đường phố, công viên, quảng trường, công trình văn hóa sẽ do Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt, ra nghị quyết trong các kỳ họp hàng năm, theo các bước: lập danh mục; tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng; lập hồ sơ chi tiết và lập ý kiến của chính quyền các quận, huỵên; trình Hội đồng tư vấn đặt tên đường phố xem xét và báo cáo Ủy ban nhân dân, Sở văn hóa – Thông tin Hà Nội là cơ quan thường trực thực hiện việc đặt tên, đổi tên đường phố. Quy chế mới này có hiệu lực từ tháng 3/2001.
Một số đơn vị chưa thực hiện chế độ một giá cho Việt kiều.
Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo việc để Việt Kiều về nước đón Tết Tân Tỵ đều được hưởng các dịch vụ, giá vé đi lại trên các phương tiện giao thông vận tải như khách trong nước, nhưng một số Công ty Du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn bán vé máy bay cho Việt kiều theo giá cũ (cao hơn so với khách trong nước). Các đơn vị này viện cớ chưa nhận được công văn chỉ đạo của Chính Phủ và Tổng Công ty Hàng không Việt Nam. Nhiều Việt kiều khi biết có chỉ đạo của Chính phủ đã yêu cầu hoàn trả phần chênh lệch nhưng không được giải quyết
Cấp giấy phép đầu tư nước ngoài qua Internet.
Từ tháng 3/2001 Sở Kế hoạch – Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thực hiện cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài qua mạng Internet ww.hcminvest.gov.vn. Các dự án được cấp giấy phép theo phương thức này chỉ đăng ký là được cấp phép,không qua khâu thẩm định.
Từ ngày 23/1 vừa qua, Sở cũng đã bắt đầu giải quyết cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn xin tổ chức họp mặt khách hàng, giới thiệu sản phẩm, thành lập chi nhánh, xác nhận danh mục hàng hóa điều chỉnh, điều chỉnh giấy phép đầu tư đối với các dự án phải thay đổi trụ sở , tăng vốn đầu tư… Ngoài ra trang web còn cung cấp các văn bản , bộ luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài, thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư, những dự án kêu gọi đầu tư và những địa điểm nhà đầu tư cần biết.
Hoàng Thảo Nguyệt – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Sản phẩm du lịch – yếu tố đầu tiên trong chiến lược quảng bá

Ngày nay, phát triển du lịch không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước hay của ngành Du lịch, mà đã trở thành mối quan tâm của xã hội. Tăng trưởng của Du lịch đã có tác động tích cực đến đời sống của một bộ phận không nhỏ quần chúng lao động. Tại một số địa phương, Du lịch đã vươn lên vị trí hàng đầu trong các ngành kinh tế.
Tuy nhiên, những gì chúng ta đã đạt được chưa tương xứng với tiềm năng du lịch rất phong phú của đất nước, chưa đủ sức cạnh tranh, thậm chí với các quốc gia phát triển du lịch trong khu vực. Số liệu dưới đây có thể giúp chúng ta tham khảo.
Từ năm 1995 đến 2000 số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng từ 1.352.296 lượt người lên 2.140.100 lượt người. Trong đó, lượng khách du lịch vào Việt Nam bằng đường hàng không tăng không đáng kể, mà loại khách này có đặc điểm đi du lịch dài ngày, đến nhiều nơi và mức chi tiêu cao. Mặt khác, lượng khách với mục đích du lịch cũng chỉ đạt xấp xỉ 50%. Trên thực tế, khách du lịch chất lượng cao mới chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn. Đó là chưa kể đến lượng khách đến lần thứ 2 là cực kỳ ít ỏi.
Nhận thức được vấn đề, ngành Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã đẩy mạnh chương trình xúc tiến du lịch nhằm cải thiện hình ảnh Du lịch Việt Nam trên thị trường Du lịch quốc tế. Chương trình này, được Nhà nước quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ về kinh phí đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, để việc tăng trưởng được bền vững, đã đến lúc cần tổng kết, đánh giá mức độ tác động thực sự của chương trình này đến sự phát triển du lịch. Song, dù kết quả thế nào đi nữa, trong những năm tới cần thiết phải quan tâm một cách thích đáng và giành nguồn kinh phí lớn hơn cho việc phát triển sản phẩm du lịch. Đây không phải là vấn đề mới nhưng có tầm quan trọng sống còn đối với ngành. Thực trạng chưa có gì đáng phấn khởi nếu chúng ta chịu khó thu thập những chương trình du lịch mà các công ty lữ hành của chúng ta đang chào bán trên thị trường hoặc giới thiệu tại các hội chợ du lịch trong ngoài nước. Đó là những chương trình trùng lặp và đơn điệu. Do vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các doanh nghiệp lữ hành phần lớn phải giảm giá để giành thị phần. Nên chăng cần có một hội nghị chuyên đề với sự tham gia của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các nhà chuyên môn, đại diện doanh nghiệp cũng như một số ngành liên quan để định hướng chiến lược phát triển sản phẩm. Tại đó sẽ giải đáp một số vấn đề cơ bản như:
Sản phẩm nào của chúng ta là độc đáo và có sức cạnh tranh cao.
Những yếu tố gì giúp chúng ta tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo để có thể chào bán một cách có hiệu quả trên thị trường.
Phạm vi trách nhiệm và khả năng của các cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp trong việc tạo ra sản phẩm du lịch?
Nói về tính hấp dẫn của sản phẩm, hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang đi theo hướng khai thác khía cạnh văn hóa. Đưa khách đến những vùng dân tộc (đặc biệt trong ngày lễ, tết) được một số công ty lữ hành đưa vào các tour du lịch. Song, điều này không dễ dàng, vì nội dung lễ hội chỉ là một phần trong tour du lịch nên không phải là lễ hội nào cũng có thể khai thác được (do yếu tố thời gian, địa điểm tổ chức). Hơn nữa, không phải lễ hội nào cũng ổn định về thời gian và chất lượng tổ chức để có thể biến thành sản phẩm chào bán trên thị trường. Bên cạnh đó, nhiều lễ hội (đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên) việc tổ chức rất tốn kém.
Tổ chức tour chuyên đề như lặn biển, ngủ đêm trên vịnh, cara – van bằng ô tô xuyên Việt cũng có khó khăn. Doanh nghiệp không biết công văn xin phép có được chấp thuận hay không, khi nào có, chi phí dẫn đường bao nhiêu thì làm sao có thể chủ động tính giá và cháo bán cho khách. Có trường hợp khi có được giấy phép thì đối tác không còn hứng thú tổ chức nữa.
Ngay cả việc tưởng chừng đơn giản là khai thác các điểm tham quan trong thành phố Hà Nội cũng không dễ dàng vì hầu hết các đường phố trong khu phố cố, phố cũ đều cấm xe ô tô chở khách loại lớn (trên 30 chỗ). Nếu được vào thì lại không chế giờ cao điểm (lại chính là giờ đi tour của du khách). Muốn được vào thì cứ 2 tháng lại phải xin phép một lần.
Còn có thể liệt kê nhiều vướng mắc hơn nữa trong cuộc hành trình tìm kiếm sản phẩm mới mà việc giải quyết chúng không trong phạm vi khả năng của các doanh nghiệp.
Tóm lại, nếu không có đầy đủ “nguyên liệu thô” như đã nói ở trên thì các “đầu bếp” là các doanh nghiệp lữ hành dù có nhiệt tình đến mấy cũng khó có thể “chế biến” thành những “món ăn” chào bán cho du khách (Tất nhiên, cũng cần phải công nhận chúng ta còn quá ít những “đầu bếp” giỏi).
Không có sản phẩm tốt thì mọi nỗ lực quảng bá sẽ chỉ đem lại kết quả hạn chế, nhiều khi có tác dụng ngược lịa, ảnh hưởng đến hình ảnh của ngành du lịch nước nhà.
Hy vọng rằng, tình hình trên sẽ được cải thiện và chính nhờ đó mà sự tăng trưởng của ngành Du lịch sẽ bền vững hơn.
Đỗ Đình Cương – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Nâng cấp lễ hội Bà Chúa Xứ

Bộ Văn hóa – Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam vừa nâng cấp lễ hội Bà Chúa Xứ ở núi Sam, huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang thành lễ hội văn hóa dân tộc. Đây là 1 trong 15 lễ hội văn hóa cấp quốc gia của năm 2001.
Hàng năm, từ sau Tết Nguyên đán đến cao điểm diễn ra lễ hội (23 – 27/4 âm lịch) có gần 2 triệu khách hành hương trong và ngoài nước đến dự lễ hội và thưởng ngoạn các sản phẩm du lịch văn hóa của vùng Bảy Núi huyền thoại.
Ngoài phần lễ được giữ nguyên theo nghi thức cúng tế cổ truyền, lễ hội năm nay sẽ chú trọng phần hội với nhiều nội dung phong phú: hội thi thể thao, hội diễn văn nghệ quần chúng, khôi phục các trò chơi dân gian, quảng bá sản phẩm du lịch đặc trưng của địa phương. Nhằm tránh xu hướng thương mại hóa lễ hội, toàn bộ hoạt động và chương trình lễ hội Bà Chúa Xứ do các cơ quan hữu hình và chính quyền tại sở đảm nhiệm.
Một số biện pháp cụ thể kiềm chế tai nạn giao thông
Tại phiên họp thường kỳ tháng 2/2001 do Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải chủ trì, một trong những việc trọng tâm của Chính phủ là thảo luận và quyết định biện pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông (TTATGT) và phòng ngừa, hạn chế tại nạn giao thông (TNGT) xary ra. Thêm một lần nữa, vấn đề TTATGT lại được đặt lên bafnnghij sự của Chính phủ.
Sau khi nghe báo cáo của Bộ trưởng Bộ GTVT Lê Ngọc Hoàn, các thành viên Chính phủ đã có nhiều ý kiến và thống nhất chỉ đạo các nghành các địa phương tiếp tục tăng cường biện pháp cấp bách để giảm thiểu TNGT. Một số biện pháp cần triển khai là: Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh các vi phạm TTATGT; giải quyết triệt để nạn đua xe trái phép; xử lý nghiêm minh tình trạng lái xe uống rượu; Các trường học kiểm tra và có biện pháp chấm dứt tình trạng học sinh không đủ tuổi đi xe máy; thực hiện bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi môtô, xe máy từ tháng 6/2001 (đối với cơ quan Nhà nước có thể thực hiện sớm hơn); Tăng cường công tác kiểm định an toàn đối với phương tiện giao thông đường bộ, gắn tránh nhiệm của cơ quan kiểm định với chất lượng kiểm định theo pháp luật;Tập trung xử lý các điểm thường xảy ra tai nạn; Kiên quyết xử lý tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè hành lang để bảo vệ công trình giao thông… Chính phủ cũng yêu cầu Chính quyền các địa phương tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện các biện pháp đảm bảo TTATGT.
m vang ngày hội
Ngày 26/3/2001, tại trung tâm huyện Tân lạc tỉnh Hòa Bình, với sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Hòa Bình đã tổ chức “Ngày hội Cồng Chiên Du lịch – Văn hóa Hòa Bình”
Tới dự có lãnh đạo Tổng cục Du lịch, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hòa Bình, huyện Tân Lạc cùng đại biểu các tỉnh bạn và hàng ngàn bè bạn bà con các dân tộc ở Hòa Bình
Phó tổng cục trưởng tổng cục du lịch Phạm Từ phát biểu tại lễ khai mạc và tham gia các hoạt độngnghi lễ truyền thống. Do thời tiết không thuận lợi, nên một số hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống, tạm hoãn, nhưng không vì thế mà mất đi không khí rộn ràng của ngày hội. 500 chiếc cồng chiêng cùng biểu diễn trong lễ khai mạc đã tạo ra âm thanh vang vọng của rừng núi Tân Lạc. Dưới đây là một số hình ảnh do phóng viên báo du lịch ghi lại trong lễ khai mạc.
L.B – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Ngộ độc

Trong những chuyến du lịch, nhất là du lịch ba lô đi tự do, ăn uống tự do trên đường thì ngộ độc cũng có thể bị xảy ra. Nếu bạn chẳng may mang đi đường một số đồ hộp để qua đát, ăn phải hoa quả dọc đường bị nhiễm khuẩn nặng, hay ăn tại một cửa hàng không được vệ sinh, thậm chí có thể hái nấm trong rừng nấu ăn lại đúng phải nấm độc thì khó tránh khỏi ngộ độc thức ăn.
Khi bị ngộ độc nhẹ, người ta thường thấy đau dạ dày, chướng bụng, chóng mặt, nhức đầu, miệng khô, mạch nhanh, á khẩu, cứng hàm. Trong tường hợp này, ta cố gắng làm cho nạn nhân nôn mửa thật nhiều bằng cách móc họng, uống nước xà phòng hoặc muối gây nôn. Uống tối đa số lượng có thể uống được như sữa, trứng đánh bông, bột mì trộn với nước cho đến khi chất nôn thấy trong thì mới thôi. Xong chườm bụng bằng túi cao su đựng nước nóng. Nếu bị ngộ độc nấm, ta thấy người ta đổ mồ hôi, đi cầu ra máu, da vàng. Lúc này ta dùng mọi biện pháp nôn càng nhiều càng tốt. Sau đó sắc đặc 40 gram mộc nhĩ hay nấm hương + 100 gram đậu xanh và uống nước mía, không ăn cơm. Nếu bị ngộ độc do cá nóc do làm cá không sạch gan và mật, ta thấy người sau khi ăn 30 phút bị tê đầu ngón tay, chân, người cảm thấy nôn nao, miệng nôn mửa, choáng váng, đau đớn, khó chịu ở tráng và tròng mắt, tay chân tê liệt da tím, nhiệt độ và huyết áp giảm. Trong trường hợp này ta có thể nằm ngửa, dắp muối đày thân chừa mặt, pha một lít nước cho than củi để lắng xuống uống hoặc giã nát một nắm rễ rau muống với muối rồi vắt uống sau đó chuyển đến bệnh viện theo dõi điều trị. Nếu ngộ độc do thịt cóc không làm sạch gan, ta có thể lấy lá hoặc trái khổ qua đã vắt lấy nước uống. Nếu ngộ độc do ăn sắn ta cảm thấy sau khi ăn vài giờ bị nôn mửa, ỉa chảy, đau sôi bụng, nhức đầu, ù tai, chóng mặt, ngứa ngáy tê chân tay. Nếu nặng hơn có thể vật vã run rẩy co giật, nhất là ở trẻ em. Trong trường hợp này ta cho uống nước đường, truyền dung dịch glucoza 30% vào tĩnh mạch và cho ngay đến bệnh viện để rửa dạ dày bằng thuốc tím 20%. Để tránh ngộ độc sắn, ta không ta không nên ăn các loại củ nhỏ trong, dẻo đắng, tránh sắn cảnh (lá có màu sặc sỡ) hay sắn cao sản dùng để làm mì chính. Khi ăn nên bỏ vỏ và cắt đầu củ sắn. Khi luộc chín, ta nên mở nắp vung cho bay hơi đi.
Vũng Tàu Intourco tiếp thị du lịch bằng cờ vua
Công ty Du lịch Vũng Tàu Intourco phối hợp với liên đoàn Cờ vua Việt Nam và Sở Thể dục Thể thao tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức các giải cờ vua quốc tế sẽ diễn ra tại thành phố Vũng Tàu từ tháng 5/2000 đến tháng giêng năm 2001.
Theo Lịch thi đấu của Liên đoàn Cờ vua Quốc tế, giải vô địch quốc tế (Nam) khu vực 3.2A với sự tham gia của các nước Brunei, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam, và các đặc khu Hồng Kông, Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 20/5 đến 30/5, giải Đại kiện tướng Intourco từ 1/6 đến 15/7; giải vô địch trẻ Đông Nam Á từ 2/9 đến 8/9/2000 và giải cờ xuyên thiên niên kỷ từ 27/12/2000 đến 9/1/2001 với sự tham gia của nhiều siêu đại kiện tướng cờ vua thế giới.
Đặc biệt trong thời gian diễn ra Giải Vô địch quốc tế (Nam) khu vực 3.2A, từ 27/5 đến 30/5, tại Vũng Tàu sẽ tổ chức lễ thành lập Liên đoàn cờ vua Đông Nam Á.
Để phục vụ người hâm mộ và khách trong nước và nước ngoài đến Vũng Tàu du lịch kết hợp theo dõi các trận thi đấu và tham gia các hoạt động giao lưu với các kỷ thủ lừng danh thế giới, Vũng Tàu Intourco tổ chức nhiều hình thức tour du lịch đến Vũng Tàu.
Khách du lịch và người hâm mộ môn thể thao trí tuệ có thể theo dõi, khai thác các thông tin về du lịch và các giải thi đấu nói trên qua mạng Internet theo địa chỉ Web: http//w.w.w.intourcovn.com.
B.S Trần Thành Long – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Ngành hàng không

Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Nhưng bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thác, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân dạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Song song với các biện pháp trên, tổng công ty đã triển khai 3 chiến lược lớn là: điều chỉnh, hoàn thiện chiến lượt phát triển dài hạn đến cuối năm 2010, định hướng đến năm 2020; xây dựng kế hoạch phát triển năng lực vận tải đến năm 2005, định hướng đến năm 2010; dự thảo Nghị định mua sắm đặc thù áp dụng cho mua/ thuê máy bay, mua/ thuê/ dùng chung động cơ, vật tư phụ tùng.
Hy vọng rằng, bước sang thiên niên kỷ mới, ngành hàng không Việt Nam ngày càng phát triển và tăng thêm nhiều chuyến bay hơn nữa để phục vụ nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Công tác tuyên truyền góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển du lịch ở Thừa Thiên – Huế

Thừa Thiên – Huế có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại với hàng trăm công trình kiến trúc độc đáo và hơn 30 di tích lịch sử – văn hóa khác đã được Nhà nước xếp hạng. Bên cạnh các di sản vật chất, Thừa Thiên – Huế còn là cái nôi nuôi dưỡng các di sản văn hóa tinh thần phong phú từ dân gian đến cung đình, là một trong những Trung tâm văn hóa – du lịch lớn của cả nước. Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ (khóa X) nêu rõ: “Đã đến lúc cần đầu tư phát triển du lịch để sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI xác định cơ cấu kinh tế của tỉnh là “Công nghiệp – Du lịch, Dịch vụ – Nông nghiệp”.
Do đó các vị trí và vai trò quan trọng như vậy nên công tác tuyên truyền về du lịch được báo Thừa Thiên – Huế thực hiện thường xuyên liên tục. Cơ cấu trang trong một số báo, phần tuyên truyền về du lịch được báo chú trọng. Hầu hết các số báo ở trang 3, ngoài việc tuyên truyền về các vấn đề văn hóa – xã hội, vấn đề du lịch luôn được quan tâm. Báo Thừa Thiên – Huế vừa thông tin các vấn đề thời sự, phản ánh thực tế, nhân tố mới vừa nêu vấn đề thực trạng và các yêu cầu bức xúc đặt ra cho ngành Du lịch. Một trong những thuận lợi cho việc tuyên truyền ở lĩnh vực này là do Du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, được tỉnh chú trọng nên có nhiều thông tin, nhiều vấn đề để tuyên truyền trên báo.
Từ khi lãnh đạo tỉnh chủ trương tập trung mọi nguồn lực để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch đa dạng của địa phương, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì Báo Thừa Thiên – Huế cũng nhanh chóng đổi mới phương thức tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới. Riêng về du lịch, Báo Thừa Thiên – Huế tập trung tuyên truyền các vấn đề trọng tâm, then chốt trong quá trình đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời với việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Cụ thể là tập trung tuyên truyền về việc gắn hoạt động du lịch với việc phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa Huế, bảo vệ cảnh quan môi trường giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội, nâng cao dân trí và tăng thu nhập cho toàn xã hội.
Trong công tác quản lý Nhà nước về Du lịch, chúng tôi định hướng tuyên truyền việc thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác phát triển và hoạt động kinh doanh du lịch; việc thực hiện Nghị định 87/CP, góp phần ngăn chặn các tệ nạn cò mồi, ăn xin, đeo bám du khách, mại dâm….Đặc biệt hướng tập trung tuyên truyền về các vấn đề có liên quan đến sự phát triển lâu dài của Du lịch như giáo dục nhân dân phát huy truyền thống mến khách, thanh lịch của người dân xứ Huế trong giao tiếp. Hướng dẫn du khách biết tôn trọng các thuần phong mỹ tục của địa phương, nhất là khi tham quan các nơi tôn nghiêm….
Thời gian gần đây, Báo Thừa Thiên – Huế cũng đã phối hợp với Sở Du lịch duy trì khá đều đặn các chuyên trang về du lịch hằng tháng trên báo. Ngoài ra, báo còn phối hợp với một số báo ở các tỉnh bạn có thế mạnh về du lịch như Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Lâm Đồng, Bà Rịa- Vũng Tàu, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Bến Tre, Cao Bằng, Bắn Kạn, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị….nhằm giới thiệu du lịch Thừa Thiên – Huế trên báo bạn và ngược lại. Báo Thừa Thiên – Huế còn quan hệ chặt chẽ và kết nghĩa với một số báo Trung ương như Tuần Du Lịch, Đầu tư, Vì trẻ thơ…trong đó có nhiệm vụ quan trọng là phối hợp tuyên truyền về văn hóa du lịch Huế.
Xác định Huế là một trong những trung tâm văn hóa – du lịch của cả nước nên ngoài việc phân công phóng viên theo dõi ngành, Báo Thừa Thiên – Huế còn xây dựng mạng lưới cộng tác viên trong cả nước, nhất là tập trung ở các tỉnh, thành phố Du lịch. Nhờ đó, báo duy trì thường xuyên chuyên mục Đất nước mến yêu, Nhìn ra tỉnh bạn nhằm giới thiệu với bạn đọc về tiềm năng du lịch của nước nhà. Báo cũng đã cử nhiều lượt phóng viên đi ngoại tỉnh công tác viết bài về du lịch để giới thiệu những kinh nghiệm làm du lịch ở các tỉnh bạn như các bài viết về cách làm du lịch của người Hội An (Quảng Nam) du lịch ở Quảng Ninh, Đà Lạt v.v….
Có thể nói công tác tuyên truyền thông tin của chúng tôi đã đi từ thấp đến cao, từ những việc làm đơn giản nhất và đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy nền kinh tế tỉnh nhà có những bước phát triển mới, trong đó có du lịch. Điều quan trọng qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm thay đổi nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của hoạt động du lịch trong các cấp, các ngành và các đoàn thể nhân dân Du lịch phát triển đã kéo theo những thay đổi về văn hóa – xã hội. Trong thời gian tới, chúng tôi không hề xem nhẹ hướng mục tiêu tuyên truyền này, luôn tìm cách chuyển tải được những thông tin vừa chính xác, vừa hấp dẫn về thế mạnh của du lịch. Để làm được điều đó, Báo Thừa Thiên – Huế rất mong nhận được sự cộng tác của các bạn đồng nghiệp, của các ngành mà trước hết là các ngành du lịch.
Đỗ Hữu Hóa – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thú vui của ngày hè

Câu cá giải trí có từ bao giờ thì chưa rõ, nhưng nghe nói ngày xưa ở những điểm câu cá thường là nơi dành cho các bậc nho sĩ ra đó vừa câu vừa thư giãn, đàm đạo văn chương và nổi bật là hình ảnh những ông cụ ung dung nhàn tản, tóc bạc, da mồi ngồi buông câu trúc ngẫm suy sự đời. Còn hôm nay, đối tượng đi câu cá giải trí thì già có, trẻ có, nhất là các nam thanh nữ tú đi du ngoạn ngoại thành trong ngày nghỉ chủ nhật, các gia đình công chức, cán bộ nghỉ hưu, tóm lại đa phần là khách nghiệp dư. Trong những ngày hè oi ả, khi cuộc sống nơi đô thị luôn ồn ào náo nhiệt, ngoài việc đi thăm vườn thú, dạo chơi trong công viên hay đi du lịch bằng tàu thủy trên sông Hồng, họ dành thời gian tìm về với thiên nhiên, thưởng thức không khí trong lành của những vùng quê ngoại thành, ngồi thư giãn, hàn huyên cùng bạn tri kỷ bên những chiếc cần câu trúc nhỏ xinh. Ở các điểm câu cá thường có cài chục lều giông câu, được làm bằng mây tre, nứa lá. Lều câu loại to rộng khoảng 10m2, lều nhỏ khoảng 5m2, bên trong có để ghế ngồi câu hoặc nếu thích khách có thể ngồi trên sàn. Đến đây, sau khi gửi xe vào bãi quy định, khách đến thuê cần để câu (đa phần là cần bằng trúc). Nếu lần đầu đến câu khách sẽ được hướng dẫn những kỹ thuật cơ bản khi câu như cách chọn hướng gió, cách đặt cần, ném thính, nhử mồi, soi tăm cá…. Nếu khách đã chuẩn bị cần của mình thì đến đây chỉ thuê điểm để câu. Để thu hút khách, mỗi điểm câu cá có cách quảng cáo, tiếp thị riêng. Ở “Quán cá Quê Hương” – Giang Biên – Gia Lâm, khách thuê 10.000đồng/ 1 cần, có thể câu từ sáng đến chiều. Khi câu cá lên (đa phần là cá trắm, mè, chép) được tính giá từ 12.000đồng – 14.000đồng/kg. Bởi thế, ở đây gia chủ thường thả nhiều cá để khách câu phấn khởi. Ở câu lạc bộ câu cá Bơi lội Đảo Sen – sân bay Gia Lâm, cách tiếp thị khác hơn, khách thuê 10.000đồng/ 1 cần/ 1 giờ, câu được cá lên thì cá là của mình, nên ở đây thường có ít cá hơn. Trong khi đó, “Vườn Quán Sơn Thành” ở Đông Anh lại có cách tiếp thị hấp dẫn hơn: Khách thuê lưỡi câu đơn: 15.000đồng/ cần, lưỡi câu lục: 20.000đồng/ cần, câu từ sáng đến chiều, cá câu lên được nhà chủ tính giá từ 10.000đồng/ 1kg – 14.000đồng/ 1kg, nếu khách câu được cá cỡ mỗi con từ 4 -5 kg sẽ được tặng cá và 10 chai bia Hà Nội, còn nếu cá cỡ 6kg/con trở lên sẽ được tặng cá và 20 chai bia Hà Nội. Ở tất cả các điểm câu cá giải trí đều có đội ngũ đầu bếp không kém gì các nhà hàng sang trọng, sẵn sàng phục vụ khách, khi khách có yêu cầu cá sẽ được chế biến theo thực đơn như lẩu cá, gỏi cá, cá nướng, cá xào nấm, cá bỏ lò, cá sốt….giá cả được tính bằng tiền cá cộng với 10.000 đồng công nấu cho khách. Ngoài ra, những nơi này còn có các món ăn khác như lợn sữa quay, dê tùng xẻo, các loại rượu, thịt thú rừng…. Anh Nguyễn Anh Tuấn ở “Quán cá Quê Hương” cho biết: “Chúng tôi luôn chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, làm cho khách ngon miệng, và quan trọng là giá cả hợp lý, để khách đi rồi lại đến”. Chính nhờ sự hấp dẫn của cảnh quan và cách phục vụ nhiệt tình nên ở các điểm câu cá giải trí thu hút khá đông khách, nhất là vào ngày hè, ngày lễ, ngày nghỉ chủ nhật. Nhận xét về các điểm câu cá giải trí, ông Đào Hữu Quyết, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, kiêm trưởng công an xã Giang Biên, Gia Lâm cho rằng: “Mô hình câu cá ở ngoại thành là một loại hình giải trí mới, đây là nơi nghỉ ngơi, giao lưu văn hóa, tạo sự phấn khởi, thoải mái trong ngày nghỉ cuối tuần”.
Mạnh Hà – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Ôm cây liệu hồn

Một người nước Tống đang cày ruộng bên chân núi Quế. Giữa ruộng có một cây to. Nửa buổi, có một con thỏ ở đâu chạy tới, quáng gà đâm đầu vào góc cây, bị chấn thương sọ não, ngã vật ra chết ngắt. Người cày ruộng thấy thế mừng quá, vội bỏ cày chạy lại bắt thỏ. Đoạn cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, chờ bắt được con thỏ khác. Ngồi như thế bốn ngày liền bỏ cả cơm, đêm đến cũng không thèm về nhà với vợ, người gầy rộc, râu tóc tua tủa, chỉ có hai con mắt là sáng quắc một niềm hy vọng. Thiên hạ đi qua thấy vậy, ai cũng chê cười. Người tử tế thì lựa lời khuyên nhủ. Kẻ ác ý thì lấy đá ném vào người, anh ta vẫn nhất quyết ôm chặt gốc cây. Sang đến ngày thứ năm mới có một ông khách lạ đi qua. Nhìn thấy cảnh đó, ông khách hăng hái bảo:
Để tôi vào nói anh ta về.
Đoạn xăm xăm tiến đến chỗ anh chàng ôm cây đợi thỏ. Ông khách ghé tai nó anh ta, thì thầm câu gì đó, khiến anh ta giật nẩy mình, nhả vội gốc cây, vác cày đi một mạch về nhà. Đám đông chứng kiến cảnh lạ vỗ tay reo hò ầm ĩ. Mãi sau có người tò mò đem chuyện ra hỏi, anh chàng cày ruộng tiết lộ
Ông ấy bảo với tôi cái cây này bọn lâm tặc đã để mắt tới rồi đó. Liệu hồn mà biến đi.
Chúng ta sẽ ít ăn thịt
Từ những năm 1950 lượng thịt dùng cho con người tính theo đầu người đã tăng gấp đôi. Theo ước tính để có 1 kg thịt bò cần 7 kg ngũ cốc, có 7 kg ngũ cốc cần tới 7 nghìn kg nước tưới. Hậu quả là nước ngọt ở một số nơi thiếu trầm trọng như một số vùng thuộc Trung Đông hay ở Bắc Phi, Ấn Độ… Vậy nếu ta bớt ăn thịt đi là ta đã tiết kiệm một lượng nước ngọt không nhỏ để dùng nó cho sinh hoạt. Hơn nữa sản xuất thịt gây ra ô nhiễm môi trường. Người ta tính được ở Mỹ gia súc đưa ra số nước thải gấp 130 lần con người. Mà ăn thịt, con người lại dễ mắc các chứng về tim mạch, béo phì.
Rác thải không còn
Theo ước tính, mỗi năm ngành công nghiệp Mỹ thải ra hơn 1,1 tỷ kg rác thải độc hại ảnh hưởng tới cả đất và nước, không khí. Người dân Mỹ thải ra là 195 tỷ kg trong đó có 25% được tái chế. Làm cách nào để cải thiện được đất nước và không khí? Một đề nghị có tính khả thi là phải tăng cường công việc tái chế, nhỏ hóa, mỏng hóa bao bì, không sản xuất các loại bao bì dùng các chất liệu không tái chế được. Điều quan trọng nữa là ở con người. Hãy hiểu lại về sự thành đạt. Đó không phải được nhìn nhận bằng đống của cải chất trong nhà rác thải trong tương lai mà nó phải là khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông và máy tính nối mạng.
Con người sẽ có đủ thực phẩm
Liên hiệp quốc dự báo dân số thế giới sẽ tăng lên 9,5 tỷ vào năm 2100, toàn cầu sẽ mất chừng 30 nghìn loài động thực vật mỗi năm trong tổng số 10 triệu loài. Mỗi ngày số tiền mà con người bỏ ra để trao đổi hàng hóa, dịch vụ lên tới 1 nghìn đô la Mỹ. Như vậy việc duy trì tốt hệ sinh thái và phát triển các tiến bộ khoa học để con người có đủ thực phẩm là điều không thể chậm trễ. Tất nhiên việc đầu tiên là duy trì nguồn nước và chống ô nhiễm. Những hiệu ứng nhà kính sẽ được giải quyết. Còn nếu cứ giữ đà này, các nhà khoa học về khí tượng tin rằng thế kỷ 21, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên thêm 2 độ C.
Nguyễn Thị Bá -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Nâng cao chất lượng sản phẩm trong khách sạn quốc doanh

Sản phẩm trong các khách sạn quốc doanh chứa đựng hai thuộc tính: thuộc tính hữu hình (được biểu hiện ở mức độ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị….trong khách sạn) và thuộc tính vô hình (biểu hiện ở tinh thần, thái độ phục vụ, sự niềm nở, ân cần và khả năng đồng cảm của nhân viên phục vụ đối với khách…). Để nâng cao chất lượng sản phẩm trong các khách sạn quốc doanh phải đồng thời chú trọng đầu tư, đổi mới cả hai thuộc tính thì mới thực sự có được sản phẩm hoàn chỉnh và ngày càng đem lại sự hài lòng cho các “thượng đế”.
Do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau nên hiện nay một số nhà quản lý các khách sạn quốc doanh đang chỉ chú trọng đầu tư vào thuộc tính hữu hình. Vì quan niệm “khép kín” các dịch vụ nên các nhà quản lý thi nhau đầu tư thêm các dịch vụ: xông hơi – massage, karaoke, dancing – vũ trường, bar….Ở những khách sạn có điều kiện về mặt bằng và khả quan về vốn thì việc đầu tư thêm các dịch vụ này còn “tàm tạm” có nghĩa là còn đảm bảo một số yêu cầu về kỹ thuật tối thiểu cần thiết của từng loại hình dịch vụ, còn phần lớn do đầu tư theo kiểu “cải tạo” nên chất lượng các “công trình” này đều rất kém, không đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần thiết. Nhưng điều đáng nói chính ở đây là hiệu quả sử dụng các dịch vụ này sau khi đầu tư đều rất thấp, bởi lẽ không phải đa số các “Thượng đế” đến với khách sạn quốc doanh đều muốn dùng hoặc đều có khả năng thanh toán khi “xài” các loại dịch vụ này. Một giờ thuê phòng hát karaoke hết trung bình 60.000 đồng, đó là chưa kể các dịch vụ nước uống kèm theo (mà không thể không có), một vé xông hơi – massage cũng trung bình là 60.000 đồng/người/lần. Về giá trị gần bằng 1/3 lương tháng của một cử nhân tốt nghiệp đại học mới ra trường vào làm ở cơ quan nhà nước. “Mọi sự so sánh đều khập khiễng” nhưng nêu ra như vậy để thấy số “Thượng đế” có tiền để “xài” các dịch vụ nêu trên quả là không nhiều và không phải là đối tượng đại chúng. Chính vì lẽ đó nên nhiều khách sạn quốc doanh sau khi đã đầu tư vào các dịch vụ này đang ở trong tình trạng “Khóc dở, mếu dở”. Thật đúng là “không có thì thiếu mà có thì thừa”.
Nhiều nhà quản lý khách sạn cũng đã nhận thức được sự cần thiết phải đầu tư vào thuộc tính thứ 2, thuộc tính vô hình. Hay nói một cách cụ thể là đầu tư để nâng cao chất lượng lao động sống trong các khách sạn. Tuy nhiên, thực hiện việc này cũng không phải dễ dàng gì. Phần lớn những người lao động trong các khách sạn quốc doanh đều là những người có thâm niên trong nghề, họ được tuyển chọn từ thời bao cấp nên hiện tại tuổi thì cao (nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu), trình độ nghiệp vụ hạn chế, ngoại ngữ không có….nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng phục vụ. Số lao động trẻ, mới được đào tạo chính quy từ các trường ra là một lực lượng đông đảo và có thể thay thế được các “bậc đàn anh, đàn chị” thì lại chưa tuyển vào được nhiều bởi còn vướng các chỉ tiêu, định mức về lao động, tiền lương…..Số thực sự giỏi đảm bảo chất lượng lại tìm đến các khách sạn liên doanh với nước ngoài vì ở đó có thu nhập cao gấp nhiều lần so với thu nhập ở các khách sạn quốc doanh.
Trong thực tế, cũng có những khách sạn quốc doanh khắc phục được những khó khăn nêu trên như: Khách sạn Rex (Tổng công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh), khách sạn Hương Giang (Công ty du lịch – khách sạn Hương Giang, Huế), khách sạn Viễn Đông (Công ty du lịch Khánh Hòa), khách sạn Hạ Long (Công ty du lịch Quảng Ninh), khách sạn Hữu Nghị (Công ty du lịch Hải Phòng)….Nhưng những khách sạn loại này cũng chỉ mới có con số “hàng chục” trong khi đó tổng số các khách sạn quốc doanh trên địa bàn cả nước khoảng 1530 thì quả là còn chiếm một tỷ lệ quá khiêm tốn.
Nhiều nhà quản lý hàng đầu trên thế giới đã khẳng định: Các nhà quản lý khách sạn phải chịu trách nhiệm tới 50% chất lượng các sản phẩm dịch vụ trong các khách sạn của mình. Như vậy, tạm coi các nhà quản lý khách sạn giữ một nửa phần trách nhiệm để nâng cao chất lượng sản phẩm trong các khách sạn thì nửa phần còn lại là việc xử lý hai thuộc tính vô hình và hữu hình.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng và có được những sản phẩm hoàn chỉnh trong khách sạn quốc doanh, ngành Du lịch cần đồng thời nghĩ đến và giải quyết đồng bộ cả 3 yếu tố: các nhà quản lý, người lao động và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị trong các khách sạn.
Trần Tiến Nghị – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Thêm 13 tập thể và 5 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động

Bà Nguyễn Thị Hoa Lệ – giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình (thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) được phong tặng danh hiệu Anh hùng.
Tiếp sau 12 tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng đợt ngày 3 tháng 2 năm 2000, vừa qua Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho 13 tập thể và 5 cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1989 đến năm 1999 trong đó có bà Nguyễn Thị Hoa Lệ, giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Anh hùng lao động Nguyễn Thị Hoa Lệ sinh ngày 12 tháng 3 năm 1957, quê quán Bình Định, hiện là Bí thư chi bộ kiêm giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ năm 1976 đến năm 1988 bà công tác trong ngành văn hóa – Thông tin của Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5 năm 1988 bà Hoa Lệ chuyển về công tác tại bộ phận phía Nam của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ năm 1989 đến nay bà là giám đốc kiêm bí thư chi bộ của Công ty Du lịch Hòa Bình. Bà là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa 7, 8. Trong năm 1989 đến năm 1999 ở cương vị lãnh đạo, bà Nguyễn Thị Hoa Lệ đã có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc. Trước hết, đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm, lao động sáng tạo quên mình, đạt năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác cao, góp phần đưa Công ty Du lịch Hòa Bình từ một đơn vị nhỏ bé, sau 10 năm đã trở thành một đơn vị tiêu biểu trong ngành Du lịch Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước. Nếu như năm 1989 tổng doanh thu của đơn vị chỉ đạt là 0,069 tỷ đồng, nộp ngân sách được 3,5 triệu đồng thì đến năm 1998, đơn vị đã đạt tổng doanh thu là 62,25 tỷ đồng, nộp ngân sách được là 3,97 tỷ đồng. Cùng với tập thể cán bộ trong Công ty, bà Hoa Lệ là người đã đi đầu trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới đem lại hiệu quả cao về kinh tế – xã hội. Nhờ trang bị hệ thống đặt và giữ chỗ hiện đại, Công ty Du lịch Hòa Bình là đơn vị đầu tiên được Hàng không thử nghiệm bán vé từ đầu nước ngoài vào. Từ năm 1994 đến năm 1995 Công ty cũng là một trong những đơn vị đầu tiên của ngành sử dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền quảng bá Du lịch và hiện đại hóa điều kiện làm việc. Các phương tiện vận chuyển khách của đơn vị cũng được liên tục đổi mới bằng các loại xe chất lượng cao nhằm phục vụ khách tốt nhất. Ngoài việc không ngừng trau dồi trình độ nghiệp vụ bản thân, bà Hoa Lệ còn đầu tư nhiều công sức cho kế hoạch đào tạo con người của Công ty. Nhờ vậy trong số hơn 200 cán bộ, nhân viên của đơn vị đến nay 100% đã được đào tạo tại chỗ về các mặt nghiệp vụ, 16 cán bộ chủ chốt được đào tạo về quản lý, 18% cán bộ công nhân viên được đào tạo ở nước ngoài. Trong 10 năm lãnh đạo Công ty Du lịch Hòa Bình cũng như suốt 25 năm tham gia cách mạng, bà Hoa Lệ luôn chấp hành tốt luật pháp Nhà nước, gương mẫu trong cuộc sống. Với ý thức nêu cao tinh thần hợp tác tương trợ, bà luôn là hạt nhân trong đơn vị. Bà Nguyễn Thi Hoa Lệ đã được nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương lao động hạng 1, 1 huân chương lao động hạng 2, 1 huân chương lao động hạng 3, huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, huy chương bảo vệ an ninh Tổ quốc và nhiều phần thưởng khác.
P.V.L-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.