Nguyễn Đức Phúc với thú say mê du lịch dã ngoại

Sau khi về hưu với hàm thiếu tá quân đội, Nguyễn Đức Phúc liền nghĩ ngay đến việc trở lại căn cứ cách mạng núi Voi, nơi mà một thời ông hoạt động để làm du lịch. Từ chỗ nghĩ đến tour di tích lịch sử cách mạng duy nhất giữa núi rừng cao nguyên Lang Bian ông nảy sinh thêm ý tưởng về những tour du lịch sinh thái qua những đồi núi chập trùng, những cánh rừng hỗn giao và rừng thông mơ mộng. Ông bảo “Phải đưa du khách vào rừng càng sâu càng tốt, mang đến cho họ những gì mới lạ giữa đại ngàn. Đó là ưu thế của du lịch sinh thái, sao không tận dụng chứ?”.
Được nhận 500 héc ta rừng để bảo vệ. Thế là ông tiến hành công việc của một người vừa làm bảo vệ môi trường vừa kinh doanh du lịch. Mùa hè năm 1996, lần đầu tiên, người ta thấy những căn nhà trên ngọn cây giữa một vùng rừng sâu cách trung tâm TP. Đà Lạt 14 km. Những người làm du lịch lại tìm vô rừng để trèo lên cây ngủ cho khổ thân…
Thay vì xây nhà sang trọng để đón khách thì ngôi nhà nhỏ nhắn bằng tranh và ván lơ lửng trên ngọn cây. Tuy không phải là khách sạn, như ở đây có đủ cả, từ cá hộp đến mắm tôm, từ bia Neiniken đến rượu tây, rượu đế… tất cả đều được đưa vào đáp ứng tối đa yêu cầu của mọi đối tượng du khách. Du khách sẽ được lội bộ, hoặc nếu cần, xe Jeep có thể đưa bạn băng rừng vào sống ở trên cây để thưởng thức vẻ hoang dã của núi rừng, nghe suối chảy, chim kêu. Từ trên ngọn cây nếu không dám leo cái thang dây bằng mây để xuống thì khách có thể nhận chuông sẽ gặp người phục vụ khi cần. Mùa lạnh thì du khách sẽ được tắm bằng nước nóng, mùa hè nếu ai thích thì xuống con suối kề bên để ngâm mình. Ông Phúc (nay đã làm giám đốc Công ty Du lịch dã ngoại phương Nam) cho biết: Du khách đến với khu dã ngoại núi Voi ban đầu chỉ là người nước ngoài, bây giờ thì có cả các doanh nhân, sinh viên Sài Gòn và đặc biệt là những đôi uyên ương miền xuôi đi hưởng tuần trăng mật…
Không dừng lại với ý tưởng “làm nhà trên cây”, hai năm nay ông Phúc lập tiếp một dự án làm nhà dưới nước để thu hút khách. Bên cạnh những căn nhà xinh xắn ở khu dã ngoại đá Tiên, những căn nhà xuống được thả xuống Hồ Tuyền Lâm. Vẫn ván, mây tre, ông Phúc lai tạo ra những căn phòng vừa gần với thiên nhiên nhưng không kém phần ấm cúng sang trọng. Trên chiếc nhà xuồng, du khách có thể thả trôi khắp con hồ rộng đến 4.000 héc ta mặt nước để tận hưởng sơn thủy hữu tình. Sau khi câu cá, tắm hồ, du khách có thể ngược lên đỉnh Đá Tiên để ngả mình trên những tảng đá Granit
Để tạo nên những thú vị cho những khu du lịch sinh thái, dã ngoại, mới đây ông đã hình thành nên một làng văn hóa dân tộc ngay tại thung lũng gần núi Voi để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu đời sống sinh hoạt và văn hóa của nhóm cư dân K’ho buôn Đạ Tía lưu lạc cách đây 30 năm nay được ông đưa họ về định canh định cư. Và như vậ, ông Phúc là một trong những doanh nghiệp du lịch đầu tiên ở Lâm Đồng chính thức “kéo” đồng bào thiểu số “nhập cuộc” với du lịch để sống.
Tuy nhiên, nói tới thiếu tá Phúc, giới làm du lịch ở Tây Nguyên và khu vực phía Nam biết đến nhiều hơn vẫn là những tour cưỡi voi xuyên Tây Nguyên. Khác với các nhà tổ chức tour xuyên Tây Nguyên ở TP. Hồ Chí Minh, thay vì bằng xe ô tô hoặc xe máy, ông Phúc đã chọn voi làm phương tiện vận chuyển. Đà Lạt không phải là xứ sở của voi, thế là ông sang tận vùng buôn Đôn – nơi có truyền thống nuôi săn và thuần dưỡng voi rừng cách đây hơn 100 năm ở bên Đak Lak để thuê voi. Cứ thế suốt ba năm qua, những tour du lịch xuyên Tây Nguyên bằng voi liên tiếp được diễn ra với một ông già 60 tuổi (tức ông Phúc) làm nhạc trưởng. Bạn hãy tưởng tượng mình đang ngồi trên lưng voi xuyên qua những cánh rừng đại ngàn của Tây Nguyên thì sẽ cảm nhận sự thú vị của nó. Những chuyến như thế kéo dài từ một tuần đến nửa tháng, từ rừng Tà Đùng qua Nam Ca đến Yordon từ buôn làng của những sắc dân K’ho, Mạ ở Đạ Đờn (Lâm Hà – Lâm Đồng) sang buôn làng của sắc dân M’nông ở buôn Triết, buôn Jun, đến buôn Trấp của những người Ê Đê, buôn Jang Lành của người Lào ở Đak Lak. Cứ thế bên cạnh những con suối, thác nước hùng vĩ, nhưng cây hoa Pơ lang, cành lan rừng, khách du lịch còn được thưởng thức đời sống, văn hóa của những sắc dân tộc bản địa từ nam đến nữ người Ê Đê sau một chuyến hướng dẫn một đoàn khách Tây cưỡi voi xuyên rừng đã phải lòng của anh chàng du khách tên là Fluri Joachim người Thụy Sĩ. Hiện cô H’Đơ đang sống hạnh phúc bên chồng ở Thụy Sĩ. Nhưng cô bảo rằng: Mai mốt về già, mình sẽ trở về Việt Nam, về với buôn Akothon của mình… Vâng, người đã góp phần tạo nên bản tình ca lãng mạn trên lưng voi đó, chính là ông Phúc – vị sĩ quan quân đội, một nhà doanh nghiệp đầy nhiệt tâm và sáng tạo.
Nguyễn Hàng Tình-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Phố huyện

Con đường nhỏ mờ trong sương trắng
Núi lim dim bên giấc mái nhà
Mây nặng nhọc chở buồn đi xa lắm
Chim khách kêu em gái ngóng người xa
Có chú sóc nâu chiều lẻ bạn
m âm kêu trong bọng cây già
Tiếng lá rơi giật mình ngoảnh lại
Chùm rễ đa hồn phố buông xoà
Có chú bé con đi theo mẹ
Qua phố đếm xem phố mấy nhà
Bà mẹ còng lưng gùi muối nặng
Đếm bước chân về núi mờ xa…
Lời bình của Tư Mã Quang:
Mở đầu là con đường – con đường chiều mờ trắng hơi sương dẫn ta về phố huyện. Sẽ rất hiếm người được thở, được xông trong cái hơi sương đùng đục trắng này nếu chưa được sống một lần trong vùng chợ Rã – Ba Bể, nơi những dãy Phia-bi-a, Phia-bi-oóc cao chạm đỉnh trời. Sương trắng chỉ có ở vùng núi đá cao và thường lan toả về chiều. Sương phủ nhoà và ru núi ngủ. Núi lim dim bên giấc mái nhà. Người ta nói giấc mộng, giấc trưa, giấc khuya ngày, giấc say, giấc tỉnh…riêng Dương Thuấn nói giấc mái nhà. Thì ra những nếp nhà ở vùng núi cao Ba Bể thường chìm trong những giấc mơ riêng của mình. Núi thì đã đành, lúc nào cũng lim dim. Đến lượt những mái nhà sàn cũng nép vào cái lim dim của núi mà thiếp ngủ.
Mặt đất im ắng như thế. Cả núi, cả con đường, cả nếp nhà đều lim dim ngủ, thì bầu trời làm sao không buồn. Đến những đám mây chiều cũng nặng nhọc. Nỗi buồn từ mặt đất bốc lên, vón kết lại để cho mây nặng nhọc chở buồn đi xa lắm. Đi đâu? Cái phương xa kia có thể là những cánh đồng vui châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, có thể là chốn thị thành đông đúc phồn hoa. Cái phương xa ấy cũng là nơi có người xa để cô em gái ngóng chờ khắc khoải khi chợt nghe tiếng của con chim khách?
Cảnh chiều phố huyện thật u tịch, buồn đến nao lòng. Không thấy hàng quán, không thấy hàng mua kẻ bán. Ngay đến chú sóc nâu cũng cô đơn, lẻ bạn. Có chú sóc nâu chiều lẻ bạn. m âm kêu trong bọng cây già. Chao ơi, đến muông thú cũng thèm sự xẻ chia, khát tình bầu bạn. Câu thơ đẩy cái tĩnh lặng, cái u tịch đến sự ngưng đọng, đông kết, tưởng như ta đang sống trong không khí liêu trai.
Ai đó? Cái gì chờ ta đó? Ô, thì ra chỉ là một gốc đa già cổ thụ với chum rễ đa hồn phố buông xoà. Thì ra đi đâu cũng không vượt khỏi bong đa, giếng nước, sân đình. Thì ra quán xá, nhà cửa, đường phố đâu dễ che khuất được chum rễ đa cổ thụ, cõi tâm linh của người Việt, linh hồn của đất đai.
Và sau cái chum rễ đa hồn phố ấy, cái phố huyện hiu hắt kia cũng hiện ra những bóng người
Có chú bé con đi theo mẹ
Qua phố đếm xem phố mấy nhà
Bà mẹ còng lưng gùi muối nặng
Đếm bước chân về núi mờ xa…
Hai câu kết khiến cả bài thơ trĩu nặng. Mới thấy thêm thương cái phố huyện miền núi thời bao cấp. Chỉ có phố huyện mới có muối – một cửa hàng muối mậu dịch tồn tại như một địa chỉ từ thiện hơn là một cơ sở kinh doanh. Và cái gùi muối nặng trên tấm lưng còng của người mẹ sao mặn mòi và xa xót, nó vừa như đè trĩu lòng ta, vừa đọng lại, kết tinh trong ta một tình yêu quê hương,xứ sở.
Bây giờ Chợ Rã đã khác xa rồi. Cái phố huyện Chợ Rã đã nhộn nhịp tấp nập lắm rồi. Nền kinh tế thị trường đã ùa đến từng xóm bản. Muối, gạo, vải, đường, tivi, cát sét, xe máy đã gõ cửa từng nhà. Và, thắng cảnh Ba Bể, như nàng tiên ngủ trong rừng, đã thức dậy, phô bày vẻ thần tiên của mình với du khách, những người xa của em gái Tày đến từ các châu lục. Tương lai, sẽ có một thị trấn to đẹp với những khách sạn sang trọng, những khu vui chơi giải trí đầy hấp để đón các du khách đến với hồ Ba Bể, động Puông, thác Đầu Đẳng…
Chính vì thế, đọc những câu thơ trên càng thấy thương nhớ và thêm yêu cái phố huyện miền núi ngày xưa.
Dương Thuấn – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Nhạc cổ điển – sức sống âm thầm và mạnh mẽ

“Âm nhạc là một thứ trừu tượng, mỗi người có thể hiểu theo một kiểu, không nhất thiết phải theo chuyên môn….Như thế, có khi người ta có được một ấn tượng khác. Và như thế đã là quý rồi!”
Đó là câu trả lời của Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn khi được một thính giả hỏi rằng anh có buồn không khi biết rằng có nhiều người đến nghe nhạc vì học tự hào về anh, muốn xem anh đàn hơn là vì họ hiểu và yêu nhạc cổ điển.
Ở một số nước trên thế giới, nhạc cổ điển luôn có sức sống bền bỉ, lôi cuốn lượng khán giả lớn và cố định. Những bản giao hưởng của Haydn, Mozart, Betthoven luôn là một thế giới kỳ diệu được người phương Tây mệnh danh là “sức mạnh Apôlông”, “sức mạnh quỷ thần”….Ở nước ta, nhạc cổ điển từ lâu đã là sự hiện diện âm thầm của một lớp người thực sự yêu thích. Trên đài truyền hình hay phát thanh, chương trình nhạc thính phòng có phát xen kẽ nhạc cổ điển làm cho thính giả ngày càng quen thuộc với những bản giao hưởng, sonate cổ điển.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà những âm thanh cổ điển được sử dụng làm nhạc nền, nhạc phim, kịch và một thời đã đang ngự trị trong các quán bar, quán cà phê buổi tối Hà Thành. Một sinh viên, khán giả của các buổi hòa nhạc của Nhạc viện Hà Nội đã nhận xét: “Pop, rock, jazz thường lên xuống theo trào lưu như mốt thời thượng, còn nhạc cổ điển thì không như vậy, nó luôn có vẻ đẹp và giá trị riêng”.
Tuy nhiên, số lượng các buổi hòa nhạc thính phòng, giao hưởng ở những thành phố lớn hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu vẫn là các buổi hòa nhạc do sinh viên biểu diễn tại Nhạc viện Hà Nội. Đó cũng là nguyên nhân mà giới yêu nhạc cổ điển thường tìm đến nhà nhau để nghe các băng, đĩa nhạc cổ điển.
Một chủ cửa hàng băng đĩa nhạc cho biết: “Nhạc cổ điển dường như lúc nào cũng có “đất” so với các dòng nhạc khác. Khách hàng ngày càng cầu kỳ hơn khi chọn mua đĩa cổ điển. Bởi so với băng, nghe đĩa nhạc chuẩn hơn, âm thanh nét và kỹ thuật tinh xảo mới được thể hiện hết được. Mặc dù giá đĩa CD đắt hơn nhiều lần băng cassette…”
Ngoài các cửa hàng băng đĩa trên phố Hàng Bài, giới thiệu nhạc cổ điển cũng quen thuộc với cửa hàng Digital 49 Quang Trung. Ở đây họ có thể tha hồ lựa chọn hầu hết các bộ băng, đĩa cổ điển với tất cả các sưu tập kim cổ. Từ các tác phẩm sonate tiêu biểu của Mozart, Betthoven, Bach hay Tchaikovski cho đến những khuôn mặt cổ điển hiện đại như Sergei Prokofiev, Claude de Bussy, Gustay Mahlir, Paul Hindemith, Igo Straivisky….Tại đây cũng xuất hiện các tác phẩm của Julian Bream với cây guitar classic, nghệ sỹ người Nga Vladimir Horon-ists. Với cây đàn piano cùng tuyển tập Golden collection hoàn chỉnh ghi âm từ năm 1920 cho đến nay. Bạn cũng có thể sang băng cassette từ đĩa giá 8000-20000 đồng/băng hay mua hẳn những CD “độc” sưu tập từ nước ngoài.
Đi theo một khách hàng quen thuộc của cửa hàng, tôi phải giật mình kinh ngạc trước hàng trăm băng đĩa, từ nhạc Mozart trong sáng vui tươi đến những cung bậc u buồn phong phú của Bach, Tchaikovski, hay Betthoven là biểu hiện của khát vọng vươn tới sự cao thượng, thánh thiện. Được hỏi tại sao yêu nhạc cổ điển đến thế, anh đáp rất giản đơn: “Vì tôi tìm thấy trong thanh âm đó tất cả những cảm xúc mà ngôn ngữ không thể diễn đạt thành lời. Đó là thế giới thuần khiết dường như chỉ có những cảm xúc tốt đẹp, lấy lại cân bằng cho tôi một cách nhẹ nhàng nhất”.
Hiện nay, Nhà hát và Nhạc viện là hai nơi ít ỏi cho bạn yêu nhạc có thể trực tiếp thưởng thức thứ âm thanh kỳ diệu ấy. Trong tình hình hiện nay, sự hiếm hoi ấy phải chăng cũng là một nguyên nhân dẫn đến số nghệ sỹ sáng tác thể loại giao hưởng, hòa nhạc thính phòng của ta chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. (Nghệ sỹ Hoàng Việt với bản Quê hương; Nguyễn Văn Thương với Đồng khởi; Trần Ngọc Sương với Trăm sông đổ về biển; Đỗ Hồng Quân với Rap-dodie Việt Nam).
Nhạc cổ điển đang dần được thính giả chấp nhận và say mê như một loại hình nghệ thuật đặc sắc. Về phía người diễn thì lòng say mê là chính vì kinh phí đầu tư cho buổi diễn còn ít ỏi. Nhưng chắc chắn rồi đây âm nhạc cổ điển sẽ dần có một chỗ đứng nhất định, được đầu tư thích đáng, xứng đáng với tầm vóc của nó.
Lan Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Cơ hội mới cho ngành du lịch Trung Đông

Ngày 4/9/1999, thêm một văn bản nữa được ký kết giữa Palestin và Israel nhằm cụ thể hóa các bước thực hiện hiệp định Wye River đã ký hồi tháng 10/1998 nhằm đưa đến hòa bình ở khu vực vốn là một lò lửa âm ỉ chiến tranh của thế giới trong suốt nửa thế kỷ qua.
Thỏa thuận do Tổng thống Plestin Y Arafat và Thủ tướng Israel, Ehud Barak ký tại Sharm El Sheikh của Ai Cập, bên bờ Địa Trung Hải, bao gồm 7 điểm, trong đó có việc Israel tiếp tục rút quân khỏi lãnh thổ khu Bờ Tây sông Jordan, trả lại tự do thêm 350 tù nhân Palestin, hai bên cùng hợp tác bảo vệ an ninh chống khủng bố, xúc tiến cuộc thương lượng về quy chế cuối cùng của các vùng lãnh thổ Palestin, việc đi lại giữa khu vực Bờ Tây và dải GaZa; phía Palestin xem xét lại Hiến chương Dân tộc Palestin để hủy bỏ điều khoảng “tiêu diệt Nhà nước Do Thái”, và phía Israel cho phép mở sân bay quốc tế Gaza.
Việc đưa lại hòa bình cho khu vực Trung Đông sẽ là một cơ hội lớn cho sự phát triển thịnh vượng của nhiều nước trong khu vực, là cơ sở để phát triển ngành du lịch, vốn rất giàu tiềm năng ở vùng đất đã sản sinh cho nhân loại nhiều nền văn minh rực rỡ. Trung Đông, vốn có một thời là trung tâm của sự phát triển của nhân loại thời cổ đại mà ngày nay còn nhiều chứng tích và huyền thoại. Tại đây đã hình thành nền văn minh Ai Cập cổ với các Kim tự tháp và kỹ thuật chế tác đá, kỹ thuật ướp xác kỳ bí, nền văn minh Lưỡng Hà với những câu chuyện hấp dẫn được miêu tả trong “Nghìn lẻ một đêm”, nền văn minh Babilon mà điển hình là khu vườn treo Babilon được xem như kỳ quan của toàn nhân loại. Chưa hết, Trung Đông cũng là nơi Đức Chúa Giêsu đã ra đời và chịu nạn và đó cũng là nguyên nhân của bao cuộc thập tự chinh – những cuộc chiến lớn nhất thời xa xưa, nay trở thành nơi hành hương của hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo. Nhưng bao năm nay, mâu thuẫn giữa Israel và Arập đã đã làm cho tình hình tại khu vực này trở nên không đảm bảo, ngăn cản người hành hương và du khách đến tìm hiể lịch sử lâu dài của một trong những cái nôi của loài người.
Sau khi ký hiệp định Oslo năm 1993, một bước ngoặt trong tiến trình đàm phán giữa người Palestin và người Israen, cả hai bên đã xây dựng các chương trình phát triển du lịch tập trung vào việc tổ chức các tour du lịch hành hương đến các thánh địa mà mục tiêu cụ thể của cả Palestin và Israen là đưa đón 2 triệu du khách nước ngoài mỗi năm kể từ năm 2000 đến các thánh địa tại khu Bờ Tây, sẽ là lãnh thổ của nhà nước Palestin độc lập trong tương lai, có thành phố Jericho thành phố cổ nhất của thế giới, được hình thành từ 2000 năm trước công nguyên, là một khu di tích được công nhận là di sản của thế giới. Sân bay Gaz được chính quyền Palestin tuyên bố là sân bay quốc tế chính của Palestin, trong 5 năm qua, đã đón nhiều nguyên thủ quốc gia như Tổng thống Mỹ Bill Clinton, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan… Trong tương lai, sân bay sẽ được mở rộng để có thể là một cửa ngõ chính đón du khách đến thăm vùng đất cổ huyền thoại này.
Hoà bình cho Trung Đông không chỉ là đòi hỏi của người dân vùng đất này, mà còn là một nhu cầu bức thiết của cả thế giới, trước hết là những người muốn tìm hiểu một thời kỳ lịch sử oai hùng của nhân loại, mà nay vẫn còn là một bí ẩn. Khi hòa bình và hòa hợp giữa người Arập và người Do Thái trở nên bền vững, rất có thể Trung Đông sẽ bước vào thời kỳ phát triển mới và ngành du lịch thế giới sẽ có thêm một trong những khu vực thu hút nhiều du khách nhất.
Nguyễn Chiến – Tuần Du Lịch – Số 37(89) Từ 13-20/9/1999

Triển lãm “Du lịch và văn hóa Việt Nam”

Trong 4 ngày từ 19 đến 22-9-1999, tại 111 Bà Huyện Thanh Quan (TP. HCM), Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng phòng Thương mại – Công nghiệp VN (VCCI) và Công ty Quảng cáo – Hội chợ thương mại (CIAT) tổ chức triển lãm “Du lịch và văn hóa Việt Nam”:.. Bên cạnh những gian hàng giới thiệu về tiềm năng du lịch – văn hóa của Việt Nam, triển lãm còn có một số hoạt động như: Thi ấn phẩm du lịch; Thi trang phục dân tộc và khách sạn; giới thiệu văn hóa ẩm thực Việt Nam; Giao lưu giữa các công ty du lịch cùng 10 hướng dẫn viên du lịch xuất sắc của TP. Hồ Chí Minh.
Quảng Trị: Mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch
Sáng 02 tháng 8 năm 1999, tại Khách sạn Đông Hà, lần đầu tiên Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị phối hợp với trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Hà Nội trực thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam, đã khai giảng lớp bồi dưỡng về Nghiệp vụ Du lịch.
Đây là sự chuẩn bị về lực lượng lao động cố chuyên môn kỹ thuật là động thái tư duy mới để đáp ứng nhu cầu đón đầu trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 mở đầu thiên niên kỷ thứ 3.
Nội dung chương trình học bao gồm hai phần lý thuyết và thực hành về chuyên ngành phục vụ Khách sạn: Buồng, bàn và lễ tân. Không nhưng đào tạo đội ngũ phục vụ cho Công ty Khách sạn – Du lịch Quảng Trị, khóa học còn cung cấp hạt nhân cho các cơ sở Khách sạn khác trong tỉnh.
Lớp học gồm có 65 học viên, được chia làm hai ca, dự kiến sẽ bế giảng vào 2/12/1999.
Trung tâm dịch vụ du lịch OSC Việt Nam
OSC Vietnam tours in vung tau city
2 Leloi St., Vung Tau city Tel: 84.64.852008-852012 Fax: 84.54.852318
Email: OSC-tours@hcm.vnn.vn
Tổ chức phục vụ du khách đến tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử nổi tiếng như: Bạch Dinh, Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn, Tịnh Xá (Chùa “Phật Nằm”, “Phật Ngồi”); Dinh Ông Nam Hải (Lăng Cá Ông – nơi lưu giữ và thờ phụng bộ xương đầu cá Ông khổng lồ tìm thấy từ đầu thế kỷ thứ XIX); Hả Đăng cổ nhất trên đỉnh núi nhỏ.
Tham quan Côn Đảo bằng máy bay trực thăng và tàu thủy
Tham quan rừng nguyên sinh Xuyên Mộc và tắm suối nước khoáng nóng Bình Châu.
Tham quan Đảo Long Sơn với nét độc đáo của đạo Ông Trần.
Phục vụ trọn gói hội nghị, hội thảo kết hợp tham quan du lịch, nghỉ mát, tắm biển.
Dịch vụ thuê xe.
Tổ chức các chương trình du lịch trong và ngoài nước theo yêu cầu.
Hướng dẫn viên nhiệt tình, thông thạo chuyên môn nghiệp vụ
Giá cả phù hợp mọi đối tượng
OSC Vietnam tours hân hạnh phục vụ quý khách !
Thông báo
Báo Tuần Du lịch thông báo với các Sở Du Lịch, Sở Thương mại – Du lịch, các đơn vị và cá nhân hoạt động du lịch: Từ ngày 01-6-1999 báo Tuần Du Lịch đã chấm dứt hợp đồng lao động với ông Trần Đình Cầu, nhân viên phát hành của văn phòng đại diện báo tại miền Trung – Tây Nguyên.
Đơn vị, cá nhân nào phát hiện ông Trần Đình Cầu lấy danh nghĩa báo Tuần Du Lịch để giao dịch, xin thông báo cho Tòa soạn báo Tuần Du Lịch biết. Xin cảm ơn.
Tuần Du Lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Tề Bạch Thạch – người không phụ lòng những danh thắng

Tề Bạch Thạch tự thuần chi, họ tề. Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1863 tại làng cây hạnh, cạnh đầm tinh đẩu, huyện tương đàm, hồ nam, trung quốc. Đây là một vùng bán sơn địa, có núi tử vân, liên hoa, bạch thạch, có sông tương, đầm tinh đẩu, sơn thủy hữu tình, tài năng thiên phú đã hun đúc nơi ông một tâm hồn khoáng đạt, ưu nhã một bút lực có thần khí.
Người như tề bạch thạch không thể không nặng lòng với những mời gọi của cảnh đẹp trên khắp dặm dài đất nước nói riêng và cảnh đẹp nói chung. Tuy vậy, do nhà nghèo, lại sớm vướng bận thê nhi, mãi đến năm 40 tuổi ông mới có điều kiện du lịch gần khắp đất nước, tận mắt thưởng ngoạn những danh thắng, thâm nhập vào đời sống nhân dân. Đi đến đâu ông cũng sưu tập tài liệu, ghi chép, đặc biệt là vẽ tranh và làm thơ. Ai đã từng lưu tâm đến tranh của tề bạch thạch hẳn đã được ngắm những tác phẩm nổi tiếng của ông qua các chuyến đi như. Hoa Sơn, Lê Sơn, Thạch Môn, Hồ Động Đình, Quê Lâm, Hoàng Hà…càng đi xa, hành trang nghệ thuật của ông càng trĩu nặng – ông đã không phụ long những ưu ái của thiên nhiên, của cái đẹp. Điều đặc biệt thú vị là nhà danh họa này đã từng tới đất Việt qua con đường Đông Hưng – Móng Cái. Dấu chân ông cũng đã để lại dọc đường biên giới Việt Trung. Dấu ấn của những chuyến đi ấy, của cảnh sắc Việt Nam đã in đậm trong bức họa “khách qua trời lục” và bài thơ “nhớ Phương Nam”.
Sau những chuyến đi, đến 60 tuổi, Tề Bạch Thạch định cư ở Bắc Kinh. Ông mất ngày 16 tháng 9 năm 1957, hưởng thọ 94 tuổi. Trong cả cuộc đời cầm cọ của mình, ông đã chưa một lần dối đời, nghệ thuật của ông đã đạt đến những tiêu chí, chuẩn mực của quốc họa Trung Hoa truyền thống. Đó là “Sắc vị hương thanh, tứ giải chủ toàn”, nghĩa là tranh vẽ hiện hình sinh động trước màu sắc hình thù, mà như được hưởng thụ được mùi vị và cảm nhận cả âm thanh. Quả là ông đã không phụ lòng những danh thắng đi qua nhãn quan mình . Nặng tình lắm và tài năng mới có thể làm được như vậy.
Bích Nhung – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Những ngày nghỉ ở Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có số giờ làm việc nhiều nhất trong một năm vì vậy những ngày nghỉ có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội của người dân xứ này. Vào những ngày nghỉ, người Nhật có thể thả mình vào các cuộc vui chơi giải trí như là một biện pháp hữu hiệu nhất để thư giãn cho chính bản thân.
Trong những ngày nghỉ của mình, người Nhật thường tham gia các hoạt động thể thao dưới nước vào mùa hè và trượt tuyết vào mùa đông. Trong các môn thể thao dưới nước số người ưa thích lướt ván vào mùa đông với bộ quần áo chống lạnh. Bên cạnh đó cũng nhiều người thích chơi môn điều khiển thuyền buồm nhưng không phải ai cũng có thuyền buồm riêng, bởi ở Nhật Bản giá thuyền buồm cũng như công việc bảo quản rất cao nên việc sở hữu riêng một chiếc chỉ có ở những người lắm tiền. Quần vợt là trò chơi giải trí chủ yếu phù hợp với mọi lứa tuổi. Vào dịp cuối tuần có rất nhiều người chơi quần vợt tại các CLB, điểm du lịch… ! Ở Nhật Bản, việc chơi golf không phải là môn thể thao dành riêng cho người giàu có nữa mà giờ đây nó đang trở nên phổ biến hơn phục vụ cho mọi lứa tuổi rộng rãi từ thanh niên đến những người có tuổi. Theo ước tính, chơi golf có rất nhiều người tham gia, họ lập thành các nhóm khác nhau từ những người đồng nghiệp trong công ty đến những ông chủ giàu sụ… Ngoài ra môn bóng đá và bóng bầu dục cũng được ưa chuộng không kém, còn các môn võ thuật thì tiếp tục phát triển, các môn Kendo, Karate, Judo và Aikido dường như đã trở thành một phần trong đời sống của hầu hết mọi người.
Trong kỳ nghỉ đông, trượt tuyết là môn thể thao thu hút đông người nhất. Các gia đình hoặc nhiều người kết thành một nhóm đi trượt tuyết, tạo nên một bầu không khí náo nhiệt vui vẻ trong những ngày đông giá lạnh. Vào những ngày này các hoạt động giải trí càng sôi nổi hẳn lên. Trên bờ sông hay bờ hồ, từng nhóm cùng nhau làm món ăn, ca hát vui vẻ. Trong khi đó có nhiều gia đình đèo chở nhau bằng ôtô đến những địa phương có các điểm du lịch sống cuộc sống lều trại. Có người thích nghỉ ngơi yên tĩnh trên các ngọn đồi, cũng có người thích đạp xe trên những con đường dành riêng cho họ, điều này không chỉ phản ảnh sự ham chuộng việc đi xe đạp gia tăng mà còn thể hiện sự quan tâm đến việc tiết kiệm năng lượng và giảm tối thiểu nạn ô nhiễm môi trường. Những người khác thì thích đi thăm lại các di tích xưa nổi tiếng trong nước hay đi ra nước ngoài. Những quốc gia mà người Nhật thích đến thăm nhất: Anh, Pháp, Bắc Mỹ, Thái Lan, Việt Nam… Và một thói quen không thể bỏ qua được đối với nhiều người Nhật Bản vào các ngày nghỉ là tắm suối nước nóng (Onsen). Bởi đối với họ đi tắm ở Onsen không chỉ để thoát khỏi cuộc sống đô thị ồn ào náo nhiệt mà còn vì những tính chất y học của nước suối. Họ tin rằng các khoáng chất có sẵn trong nước là một phương thức chữa trị cho rất nhiều loại bệnh. Người Nhật tắm mỗi ngày ít nhất một lần, và không phải chỉ để giữ mình sạch sẽ tinh tươm, họ còn tắm để thư giãn hoàn toàn và nạp lại năng lượng để chuẩn bị cho công việc vào ngày mai.
Satoshi Kumada – Hoàng Phú – Tuần Du lịch – 1999

Tiến tới đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6

Ngành du lịch phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn năm 1999 – 2000
Từ tháng 7-1999 đến Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 (năm 2000) toàn ngành Du lịch tổ chức 3 đợt thi đua
Thành lập Hội đồng thi đua – khen thưởng của Tổng cục Du lịch.
Thực hiện chỉ thị 35/CT-TW của Bộ chính trị, Tổng cục Du lịch quyết định mở Đại hội điển hình tiên tiến ngành Du lịch và phát động đợt thi đua từ 7/1999 đến 12/2000, nhằm động viên toàn thể cán bộ, công nhân viên toàn ngành phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhà nước giao, góp phần khắc phục khó khăn, giữ vững sự ổn định và đẩy mạnh sự nghiệp phát triển du lịch của đất nước.
Theo kế hoạch số 703/TCDL-TĐ ngày 1-7-1999 của Tổng cục Du lịch, đợt thi đua chào mừng Đại hội và kỷ niệm các ngày lễ lớn, kỷ niệm ngành Du lịch 40 tuổi tập trung vào thực hiện các mục tiêu chính: phấn đấu đến năm 2000 Việt Nam đón được 2 triệu khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa đạt 11 triệu lượt người. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, kinh doanh góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Từ tháng 7/1999 đến Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 (cuối năm 2000) toàn ngành Du lịch tổ chức 3 đợt thi đua. Đợt 1 (từ tháng 7/1999 đến 22/12/1999) có chủ đề “vì sự an toàn – trật tự – vệ sinh tại các điểm tham quan du lịch”. Đợt 2 (từ 22/12/1999 đến 9/7/2000) và đợt 3 (từ 9/7/2000 đến hết năm 2000) tập trung vào chủ đề “vì chất lượng cao của sản phẩm du lịch”, thi đua hoàn thành xuất sắc chương trình công tác và nhiệm vụ kế hoạch của ngành năm 2000, lập thành tích chào mừng các sự kiện quan trọng trong năm: chào mừng Đảng tròn 70 tuổi, 55 năm Cách mạng tháng Tám, ngành Du lịch Việt Nam 40 tuổi, chào mừng Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6…
Bản kế hoạch cũng hướng dẫn các phương thức tổ chức thi đua, đề ra các khẩu hiệu thi đua, các bước tiến hành với những mốc tiến độ tương ứng các nội dung, mục tiêu cụ thể. Theo dự kiến, Đại hội điển hình tiên tiến ngành Du lịch sẽ được tiến hành vào đúng ngày kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch (9-7-2000).
Để đáp ứng yêu cầu của công tác thi đua – khen thưởng (TĐ-TK) trong tình hình mới, ngày 2-7-1999 Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã ký quyết định số 197/1999/QĐ-TCDL thành lập Hội đồng TĐ-KT của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 10 thành viên chính thức do Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm Chủ tịch, Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tín là Phó chủ tịch Hội đồng.
Hoàng Mai – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Ramayana và những phù điêu ở bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng

Du khách một lần đến bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng hẳn không thể quên được những hình ảnh trên bốn bức phù điêu bằng sa thạch, trang trí chung quanh một bệ Linga – yoni được đặt chính giữa phòng trưng bày dành cho các hiện vật sưu tầm từ Trà Kiệu – Quảng Nam. Cũng như các hoa văn trang trí khác, những hình ảnh này có chức năng tô điểm và làm nổi bật tác phẩm điêu khắc độc đáo của văn hóa Chăm, thể hiện tín ngưỡng phồn thực qua hình ảnh của một bệ Linga – yoni. Song, điều đáng nói chính là nội dung đặc biệt của bốn bức phù điêu này. Đây là những trích đoạn bằng hình ảnh của sử thi Ramayana nổi tiếng của Ấn Độ.
Ramayana là sử thi kể về chiến công lừng lẫy của Rama, hoàng tử con vua Dasaratha nhân đức. Bức phù điêu thứ nhất, phía trái từ công bảo tàng vào, gồm 16 nhân vật tả cảnh hoàng tử Rama bẻ gãy cung thần Rudra ở thành Videha của xứ Mithila. Rama được quyền cưới con gái vua Janaka, công chúa Sita sắc đẹp tuyệt vời. Đó chính là đoạn đầu của sử thi và cũng là thành công đầu của Rama từ khi theo thầy Visvamitra lên đường lập chí. Đoạn này thể hiện sức mạnh của Rama hay chính là hiện thân của thần Brahma vĩ đại.
Mặt phía trong gồm 16 nhân vật tả cảnh sứ giả được vua Janaka phái đến Ayodya mời đức vua Dasaratha, phụ vương của Rama. Sứ giả báo cho vua Dasaratha biết thành công của Rama, dâng lễ vật và mời ông đến Videha làm lễ cưới cho con trai mình. Bức thứ ba, phía phải từ cổng vào, là cảnh lễ cưới ở hoàng gia gồm 18 nhân vật. Đây là lễ cưới của Rama và Sita, và của 3 em trai của Rama cùng với 3 em họ của Sita.
Bức phù điêu cuối cùng, đối diện cổng bảo tàng, là hình ảnh của 11 vũ nữ Apsara dưới sự hướng dẫn của hai nhạc công gandharva. Các tiên nữ đang múa hát ca mừng lễ cưới. Những hình ảnh tuy được tạo trên chất liệu đá nhưng hết sức mềm mại và sống động.
Cả 4 cảnh này đều thuộc về đoạn đầu của sử thi. Dưới con mắt tinh tế và bàn tay tài ba của các nghệ nhân Chăm thế kỷ VII, những tác phẩm điêu khắc chịu ảnh hưởng của phong cách nghệ thuật Amaravati Nam Ấn này được thể hiện công phu và sinh động. Cùng với hàng loạt các tác phẩm điêu khắc khác, chúng ra đời vào thời cực thịnh của Vương quốc Chămpa, thời kỳ Simhapura thế kỷ IV – VIII.
Về khía cạnh văn hóa, những tác phẩm này là một bằng chứng thuyết phục về sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ lên đời sống văn hóa tinh thần của người Chăm. Về mặt tôn giáo thì đây là một trong những hình thức biểu hiện sự tôn vinh Bàlamôn giáo trong ý thức hệ của người Chăm. Hình ảnh chàng Rama dũng cảm chính là hiện thân của đấng sáng tạo Brahma, vị thần được đầu thai làm hoàng tử Rama, con trai của vì vua nhân đức Dasaratha. Và, như đã sắp đặt trước, Sita chính là hiện thân của Sarasvati, nữ thần âm nhạc, thông minh và sự hiểu biết, là vị thần đã sáng tạo ra chữ cái Phạn ngữ (Sanskit). Trong sử thi, Sita thực hiện hoàn thiện vao trò của một người vợ đức hạnh, thuỷ chung khi bị tên quỷ mười đầu Ravana bắt về làm vợ. Một Sita như thế xứng đáng được tôn thờ nơi thiết chế xã hội là gia đình mẫu hệ đang được tôn trọng và duy trì.
Qua bốn bức phù điêu ở bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng, Ramayana không chỉ là một pho kinh của riêng người dân Ấn mà còn là ước mơ diệt trừ tàn bạo, ác quỷ, cầu mong bình yên, hạnh phúc của các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Ấn Độ huyền bí. Ước mơ một Rama anh hùng, bách chiến bách thắng, một Sita đức hạnh, tài sắc, thủy chung chính là ước mơ của người Chăm đương thời và chắc hẳn cũng là ước mơ của mỗi người Việt chúng ta.
Hồ Ngọc Thanh – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Kỷ niệm 40 năm phim truyện Việt Nam: Tuệ Minh – ngôi sao lấp lánh

Trong số diễn viên ít ỏi của điện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ đầu, Tuệ Minh nổi lên như một ngôi sao lấp lánh, trở thành một hiện tượng nổi trội, chiếm được tình cảm nồng hậu của người xem và cả lòng yêu mến của bạn bè đồng nghiệp. Cùng với các diễn viên điện ảnh khóa đầu tiên như Trà Giang, Ngọc Lan, Lâm Tơi, Thúy Vinh…, Tuệ Minh đã góp phần không nhỏ làm nên gương mặt trong trẻo và tươi sáng của nền điện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ non trẻ. Có thể nói, ở Tuệ Minh có sự kết hợp hài hòa những yếu tố tiên quyết của người nghệ sỹ biểu diễn, đó là sự nhạy cảm nghệ thuật, lòng say mê nghề nghiệp, thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và kỹ năng diễn xuất đạt đến trình độ điêu luyện. Xem Tuệ Minh biểu diễn trên màn ảnh, trên sân khấu kịch nói, trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, và cả trên làn sóng Đài phát thanh nữa… chúng ta đều dễ dàng nhận ra những dấu ấn trong phong cách biểu diễn của chị.
Tuệ Minh quê ở Gia Lâm, Hà Nội, nhưng chị sinh ra và lớn lên ở Kinh Đô 36 phố phường. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chị theo gia đình tản cư lên Thái Nguyên và tiếp tục việc học tập ở vùng núi chiến khu cách mạng. Năm 1953, khi vừa tròn 16 tuổi, chị được một người bác họ là nhà văn Kim Lân giới thiệu với nhà thơ, nhà soạn kịch Thế Lữ và nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát. Thấy Tuệ Minh xinh tươi, linh lợi và duyên dáng, Thế Lữ đã không ngần ngại nhận cô bé 16 tuổi ấy vào làm diễn viên cho đoàn Ca múa kịch nhân dân Trung ương do chính ông phụ trách. Thế là, mới 16 tuổi, cô bé Tuệ Minh đã hồn nhiên bước vào cuộc đời nghệ thuật và gắn bó với nó như hình với bóng cho tới tận bây giờ.
Sau nhân vật cô Thơm trong bộ phim Một ngày đầu thu của đạo diễn Huy Vân, Tuệ Minh liên tiếp được các đạo diễn mời đóng vai chính trong những phim sau đó như Nguyễn Văn Trỗi, Người đôi bờ, Vợ chồng anh Lực, Ngày lễ Thánh, Dòng sông âm vang, Vĩ tuyến 17 – Ngày và đêm, Em bé Hà Nội….. Bây giờ, mỗi lần nhắc lại, người xem vẫn còn nhớ ra một Tuệ Minh duyên dáng và đằm thắm, thông minh và sâu lắng, hồn nhiên mà sắc sảo thông qua nhưng vai diễn hết sức khác nhau của mình. Khi đến với một vai diễn mới, dù là vai chính hay vai thứ, Tuệ Minh luôn biết quên mình đi, vận dụng một tâm hồn riêng biệt, khiến cho các nhân vật của chị đảm nhiệm có sức quyến rũ mạnh mẽ đối với người xem. Ngay cả trên sàn diễn sân khấu cũng vậy, Tuệ Minh từ cánh gà bước ra không còn là Tuệ Minh nữa mà đã là một cô Phượng (trong vở kịch Cách mạng của nhà văn Nguyễn Khải) làm cho khán giả thốt nhiên nín thở. Và khi đó, chỉ còn vang lên giọng nói như tiếng khánh bạc của Tuệ Minh trong vai cô gái quyền quý kia…
Mấy năm gần đây, cũng như những đồng nghiệp cùng trang lứa, Tuệ Minh ít xuất hiện trên màn ảnh. Với lòng yêu nghề tha thiết, Tuệ Minh đã tìm cho mình một nghề mới, rất phù hợp với nguyện vọng và khả năng của chị, đó là nghề đào tạo những diễn viên sân khấu và điện ảnh cho tương lai. Chị tham gia giảng dạy ở Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Trường Sân khấu và Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát tuổi trẻ… Các lớp học sinh của chị đã lần lượt ra trường và đang chiếm lĩnh các sân khấu và màn ảnh trên cả nước.
Lý Nguyên Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999