Ngành hàng không

Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Nhưng bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thác, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân dạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Song song với các biện pháp trên, tổng công ty đã triển khai 3 chiến lược lớn là: điều chỉnh, hoàn thiện chiến lượt phát triển dài hạn đến cuối năm 2010, định hướng đến năm 2020; xây dựng kế hoạch phát triển năng lực vận tải đến năm 2005, định hướng đến năm 2010; dự thảo Nghị định mua sắm đặc thù áp dụng cho mua/ thuê máy bay, mua/ thuê/ dùng chung động cơ, vật tư phụ tùng.
Hy vọng rằng, bước sang thiên niên kỷ mới, ngành hàng không Việt Nam ngày càng phát triển và tăng thêm nhiều chuyến bay hơn nữa để phục vụ nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Công tác tuyên truyền góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển du lịch ở Thừa Thiên – Huế

Thừa Thiên – Huế có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có quần thể di tích Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại với hàng trăm công trình kiến trúc độc đáo và hơn 30 di tích lịch sử – văn hóa khác đã được Nhà nước xếp hạng. Bên cạnh các di sản vật chất, Thừa Thiên – Huế còn là cái nôi nuôi dưỡng các di sản văn hóa tinh thần phong phú từ dân gian đến cung đình, là một trong những Trung tâm văn hóa – du lịch lớn của cả nước. Hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh giữa nhiệm kỳ (khóa X) nêu rõ: “Đã đến lúc cần đầu tư phát triển du lịch để sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI xác định cơ cấu kinh tế của tỉnh là “Công nghiệp – Du lịch, Dịch vụ – Nông nghiệp”.
Do đó các vị trí và vai trò quan trọng như vậy nên công tác tuyên truyền về du lịch được báo Thừa Thiên – Huế thực hiện thường xuyên liên tục. Cơ cấu trang trong một số báo, phần tuyên truyền về du lịch được báo chú trọng. Hầu hết các số báo ở trang 3, ngoài việc tuyên truyền về các vấn đề văn hóa – xã hội, vấn đề du lịch luôn được quan tâm. Báo Thừa Thiên – Huế vừa thông tin các vấn đề thời sự, phản ánh thực tế, nhân tố mới vừa nêu vấn đề thực trạng và các yêu cầu bức xúc đặt ra cho ngành Du lịch. Một trong những thuận lợi cho việc tuyên truyền ở lĩnh vực này là do Du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, được tỉnh chú trọng nên có nhiều thông tin, nhiều vấn đề để tuyên truyền trên báo.
Từ khi lãnh đạo tỉnh chủ trương tập trung mọi nguồn lực để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch đa dạng của địa phương, thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì Báo Thừa Thiên – Huế cũng nhanh chóng đổi mới phương thức tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới. Riêng về du lịch, Báo Thừa Thiên – Huế tập trung tuyên truyền các vấn đề trọng tâm, then chốt trong quá trình đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời với việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Cụ thể là tập trung tuyên truyền về việc gắn hoạt động du lịch với việc phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa Huế, bảo vệ cảnh quan môi trường giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội, nâng cao dân trí và tăng thu nhập cho toàn xã hội.
Trong công tác quản lý Nhà nước về Du lịch, chúng tôi định hướng tuyên truyền việc thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác phát triển và hoạt động kinh doanh du lịch; việc thực hiện Nghị định 87/CP, góp phần ngăn chặn các tệ nạn cò mồi, ăn xin, đeo bám du khách, mại dâm….Đặc biệt hướng tập trung tuyên truyền về các vấn đề có liên quan đến sự phát triển lâu dài của Du lịch như giáo dục nhân dân phát huy truyền thống mến khách, thanh lịch của người dân xứ Huế trong giao tiếp. Hướng dẫn du khách biết tôn trọng các thuần phong mỹ tục của địa phương, nhất là khi tham quan các nơi tôn nghiêm….
Thời gian gần đây, Báo Thừa Thiên – Huế cũng đã phối hợp với Sở Du lịch duy trì khá đều đặn các chuyên trang về du lịch hằng tháng trên báo. Ngoài ra, báo còn phối hợp với một số báo ở các tỉnh bạn có thế mạnh về du lịch như Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Lâm Đồng, Bà Rịa- Vũng Tàu, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Bến Tre, Cao Bằng, Bắn Kạn, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị….nhằm giới thiệu du lịch Thừa Thiên – Huế trên báo bạn và ngược lại. Báo Thừa Thiên – Huế còn quan hệ chặt chẽ và kết nghĩa với một số báo Trung ương như Tuần Du Lịch, Đầu tư, Vì trẻ thơ…trong đó có nhiệm vụ quan trọng là phối hợp tuyên truyền về văn hóa du lịch Huế.
Xác định Huế là một trong những trung tâm văn hóa – du lịch của cả nước nên ngoài việc phân công phóng viên theo dõi ngành, Báo Thừa Thiên – Huế còn xây dựng mạng lưới cộng tác viên trong cả nước, nhất là tập trung ở các tỉnh, thành phố Du lịch. Nhờ đó, báo duy trì thường xuyên chuyên mục Đất nước mến yêu, Nhìn ra tỉnh bạn nhằm giới thiệu với bạn đọc về tiềm năng du lịch của nước nhà. Báo cũng đã cử nhiều lượt phóng viên đi ngoại tỉnh công tác viết bài về du lịch để giới thiệu những kinh nghiệm làm du lịch ở các tỉnh bạn như các bài viết về cách làm du lịch của người Hội An (Quảng Nam) du lịch ở Quảng Ninh, Đà Lạt v.v….
Có thể nói công tác tuyên truyền thông tin của chúng tôi đã đi từ thấp đến cao, từ những việc làm đơn giản nhất và đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy nền kinh tế tỉnh nhà có những bước phát triển mới, trong đó có du lịch. Điều quan trọng qua công tác tuyên truyền đã góp phần làm thay đổi nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của hoạt động du lịch trong các cấp, các ngành và các đoàn thể nhân dân Du lịch phát triển đã kéo theo những thay đổi về văn hóa – xã hội. Trong thời gian tới, chúng tôi không hề xem nhẹ hướng mục tiêu tuyên truyền này, luôn tìm cách chuyển tải được những thông tin vừa chính xác, vừa hấp dẫn về thế mạnh của du lịch. Để làm được điều đó, Báo Thừa Thiên – Huế rất mong nhận được sự cộng tác của các bạn đồng nghiệp, của các ngành mà trước hết là các ngành du lịch.
Đỗ Hữu Hóa – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thú vui của ngày hè

Câu cá giải trí có từ bao giờ thì chưa rõ, nhưng nghe nói ngày xưa ở những điểm câu cá thường là nơi dành cho các bậc nho sĩ ra đó vừa câu vừa thư giãn, đàm đạo văn chương và nổi bật là hình ảnh những ông cụ ung dung nhàn tản, tóc bạc, da mồi ngồi buông câu trúc ngẫm suy sự đời. Còn hôm nay, đối tượng đi câu cá giải trí thì già có, trẻ có, nhất là các nam thanh nữ tú đi du ngoạn ngoại thành trong ngày nghỉ chủ nhật, các gia đình công chức, cán bộ nghỉ hưu, tóm lại đa phần là khách nghiệp dư. Trong những ngày hè oi ả, khi cuộc sống nơi đô thị luôn ồn ào náo nhiệt, ngoài việc đi thăm vườn thú, dạo chơi trong công viên hay đi du lịch bằng tàu thủy trên sông Hồng, họ dành thời gian tìm về với thiên nhiên, thưởng thức không khí trong lành của những vùng quê ngoại thành, ngồi thư giãn, hàn huyên cùng bạn tri kỷ bên những chiếc cần câu trúc nhỏ xinh. Ở các điểm câu cá thường có cài chục lều giông câu, được làm bằng mây tre, nứa lá. Lều câu loại to rộng khoảng 10m2, lều nhỏ khoảng 5m2, bên trong có để ghế ngồi câu hoặc nếu thích khách có thể ngồi trên sàn. Đến đây, sau khi gửi xe vào bãi quy định, khách đến thuê cần để câu (đa phần là cần bằng trúc). Nếu lần đầu đến câu khách sẽ được hướng dẫn những kỹ thuật cơ bản khi câu như cách chọn hướng gió, cách đặt cần, ném thính, nhử mồi, soi tăm cá…. Nếu khách đã chuẩn bị cần của mình thì đến đây chỉ thuê điểm để câu. Để thu hút khách, mỗi điểm câu cá có cách quảng cáo, tiếp thị riêng. Ở “Quán cá Quê Hương” – Giang Biên – Gia Lâm, khách thuê 10.000đồng/ 1 cần, có thể câu từ sáng đến chiều. Khi câu cá lên (đa phần là cá trắm, mè, chép) được tính giá từ 12.000đồng – 14.000đồng/kg. Bởi thế, ở đây gia chủ thường thả nhiều cá để khách câu phấn khởi. Ở câu lạc bộ câu cá Bơi lội Đảo Sen – sân bay Gia Lâm, cách tiếp thị khác hơn, khách thuê 10.000đồng/ 1 cần/ 1 giờ, câu được cá lên thì cá là của mình, nên ở đây thường có ít cá hơn. Trong khi đó, “Vườn Quán Sơn Thành” ở Đông Anh lại có cách tiếp thị hấp dẫn hơn: Khách thuê lưỡi câu đơn: 15.000đồng/ cần, lưỡi câu lục: 20.000đồng/ cần, câu từ sáng đến chiều, cá câu lên được nhà chủ tính giá từ 10.000đồng/ 1kg – 14.000đồng/ 1kg, nếu khách câu được cá cỡ mỗi con từ 4 -5 kg sẽ được tặng cá và 10 chai bia Hà Nội, còn nếu cá cỡ 6kg/con trở lên sẽ được tặng cá và 20 chai bia Hà Nội. Ở tất cả các điểm câu cá giải trí đều có đội ngũ đầu bếp không kém gì các nhà hàng sang trọng, sẵn sàng phục vụ khách, khi khách có yêu cầu cá sẽ được chế biến theo thực đơn như lẩu cá, gỏi cá, cá nướng, cá xào nấm, cá bỏ lò, cá sốt….giá cả được tính bằng tiền cá cộng với 10.000 đồng công nấu cho khách. Ngoài ra, những nơi này còn có các món ăn khác như lợn sữa quay, dê tùng xẻo, các loại rượu, thịt thú rừng…. Anh Nguyễn Anh Tuấn ở “Quán cá Quê Hương” cho biết: “Chúng tôi luôn chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, làm cho khách ngon miệng, và quan trọng là giá cả hợp lý, để khách đi rồi lại đến”. Chính nhờ sự hấp dẫn của cảnh quan và cách phục vụ nhiệt tình nên ở các điểm câu cá giải trí thu hút khá đông khách, nhất là vào ngày hè, ngày lễ, ngày nghỉ chủ nhật. Nhận xét về các điểm câu cá giải trí, ông Đào Hữu Quyết, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, kiêm trưởng công an xã Giang Biên, Gia Lâm cho rằng: “Mô hình câu cá ở ngoại thành là một loại hình giải trí mới, đây là nơi nghỉ ngơi, giao lưu văn hóa, tạo sự phấn khởi, thoải mái trong ngày nghỉ cuối tuần”.
Mạnh Hà – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Ôm cây liệu hồn

Một người nước Tống đang cày ruộng bên chân núi Quế. Giữa ruộng có một cây to. Nửa buổi, có một con thỏ ở đâu chạy tới, quáng gà đâm đầu vào góc cây, bị chấn thương sọ não, ngã vật ra chết ngắt. Người cày ruộng thấy thế mừng quá, vội bỏ cày chạy lại bắt thỏ. Đoạn cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, chờ bắt được con thỏ khác. Ngồi như thế bốn ngày liền bỏ cả cơm, đêm đến cũng không thèm về nhà với vợ, người gầy rộc, râu tóc tua tủa, chỉ có hai con mắt là sáng quắc một niềm hy vọng. Thiên hạ đi qua thấy vậy, ai cũng chê cười. Người tử tế thì lựa lời khuyên nhủ. Kẻ ác ý thì lấy đá ném vào người, anh ta vẫn nhất quyết ôm chặt gốc cây. Sang đến ngày thứ năm mới có một ông khách lạ đi qua. Nhìn thấy cảnh đó, ông khách hăng hái bảo:
Để tôi vào nói anh ta về.
Đoạn xăm xăm tiến đến chỗ anh chàng ôm cây đợi thỏ. Ông khách ghé tai nó anh ta, thì thầm câu gì đó, khiến anh ta giật nẩy mình, nhả vội gốc cây, vác cày đi một mạch về nhà. Đám đông chứng kiến cảnh lạ vỗ tay reo hò ầm ĩ. Mãi sau có người tò mò đem chuyện ra hỏi, anh chàng cày ruộng tiết lộ
Ông ấy bảo với tôi cái cây này bọn lâm tặc đã để mắt tới rồi đó. Liệu hồn mà biến đi.
Chúng ta sẽ ít ăn thịt
Từ những năm 1950 lượng thịt dùng cho con người tính theo đầu người đã tăng gấp đôi. Theo ước tính để có 1 kg thịt bò cần 7 kg ngũ cốc, có 7 kg ngũ cốc cần tới 7 nghìn kg nước tưới. Hậu quả là nước ngọt ở một số nơi thiếu trầm trọng như một số vùng thuộc Trung Đông hay ở Bắc Phi, Ấn Độ… Vậy nếu ta bớt ăn thịt đi là ta đã tiết kiệm một lượng nước ngọt không nhỏ để dùng nó cho sinh hoạt. Hơn nữa sản xuất thịt gây ra ô nhiễm môi trường. Người ta tính được ở Mỹ gia súc đưa ra số nước thải gấp 130 lần con người. Mà ăn thịt, con người lại dễ mắc các chứng về tim mạch, béo phì.
Rác thải không còn
Theo ước tính, mỗi năm ngành công nghiệp Mỹ thải ra hơn 1,1 tỷ kg rác thải độc hại ảnh hưởng tới cả đất và nước, không khí. Người dân Mỹ thải ra là 195 tỷ kg trong đó có 25% được tái chế. Làm cách nào để cải thiện được đất nước và không khí? Một đề nghị có tính khả thi là phải tăng cường công việc tái chế, nhỏ hóa, mỏng hóa bao bì, không sản xuất các loại bao bì dùng các chất liệu không tái chế được. Điều quan trọng nữa là ở con người. Hãy hiểu lại về sự thành đạt. Đó không phải được nhìn nhận bằng đống của cải chất trong nhà rác thải trong tương lai mà nó phải là khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông và máy tính nối mạng.
Con người sẽ có đủ thực phẩm
Liên hiệp quốc dự báo dân số thế giới sẽ tăng lên 9,5 tỷ vào năm 2100, toàn cầu sẽ mất chừng 30 nghìn loài động thực vật mỗi năm trong tổng số 10 triệu loài. Mỗi ngày số tiền mà con người bỏ ra để trao đổi hàng hóa, dịch vụ lên tới 1 nghìn đô la Mỹ. Như vậy việc duy trì tốt hệ sinh thái và phát triển các tiến bộ khoa học để con người có đủ thực phẩm là điều không thể chậm trễ. Tất nhiên việc đầu tiên là duy trì nguồn nước và chống ô nhiễm. Những hiệu ứng nhà kính sẽ được giải quyết. Còn nếu cứ giữ đà này, các nhà khoa học về khí tượng tin rằng thế kỷ 21, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên thêm 2 độ C.
Nguyễn Thị Bá -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Nâng cao chất lượng sản phẩm trong khách sạn quốc doanh

Sản phẩm trong các khách sạn quốc doanh chứa đựng hai thuộc tính: thuộc tính hữu hình (được biểu hiện ở mức độ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị….trong khách sạn) và thuộc tính vô hình (biểu hiện ở tinh thần, thái độ phục vụ, sự niềm nở, ân cần và khả năng đồng cảm của nhân viên phục vụ đối với khách…). Để nâng cao chất lượng sản phẩm trong các khách sạn quốc doanh phải đồng thời chú trọng đầu tư, đổi mới cả hai thuộc tính thì mới thực sự có được sản phẩm hoàn chỉnh và ngày càng đem lại sự hài lòng cho các “thượng đế”.
Do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau nên hiện nay một số nhà quản lý các khách sạn quốc doanh đang chỉ chú trọng đầu tư vào thuộc tính hữu hình. Vì quan niệm “khép kín” các dịch vụ nên các nhà quản lý thi nhau đầu tư thêm các dịch vụ: xông hơi – massage, karaoke, dancing – vũ trường, bar….Ở những khách sạn có điều kiện về mặt bằng và khả quan về vốn thì việc đầu tư thêm các dịch vụ này còn “tàm tạm” có nghĩa là còn đảm bảo một số yêu cầu về kỹ thuật tối thiểu cần thiết của từng loại hình dịch vụ, còn phần lớn do đầu tư theo kiểu “cải tạo” nên chất lượng các “công trình” này đều rất kém, không đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần thiết. Nhưng điều đáng nói chính ở đây là hiệu quả sử dụng các dịch vụ này sau khi đầu tư đều rất thấp, bởi lẽ không phải đa số các “Thượng đế” đến với khách sạn quốc doanh đều muốn dùng hoặc đều có khả năng thanh toán khi “xài” các loại dịch vụ này. Một giờ thuê phòng hát karaoke hết trung bình 60.000 đồng, đó là chưa kể các dịch vụ nước uống kèm theo (mà không thể không có), một vé xông hơi – massage cũng trung bình là 60.000 đồng/người/lần. Về giá trị gần bằng 1/3 lương tháng của một cử nhân tốt nghiệp đại học mới ra trường vào làm ở cơ quan nhà nước. “Mọi sự so sánh đều khập khiễng” nhưng nêu ra như vậy để thấy số “Thượng đế” có tiền để “xài” các dịch vụ nêu trên quả là không nhiều và không phải là đối tượng đại chúng. Chính vì lẽ đó nên nhiều khách sạn quốc doanh sau khi đã đầu tư vào các dịch vụ này đang ở trong tình trạng “Khóc dở, mếu dở”. Thật đúng là “không có thì thiếu mà có thì thừa”.
Nhiều nhà quản lý khách sạn cũng đã nhận thức được sự cần thiết phải đầu tư vào thuộc tính thứ 2, thuộc tính vô hình. Hay nói một cách cụ thể là đầu tư để nâng cao chất lượng lao động sống trong các khách sạn. Tuy nhiên, thực hiện việc này cũng không phải dễ dàng gì. Phần lớn những người lao động trong các khách sạn quốc doanh đều là những người có thâm niên trong nghề, họ được tuyển chọn từ thời bao cấp nên hiện tại tuổi thì cao (nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu), trình độ nghiệp vụ hạn chế, ngoại ngữ không có….nên đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng phục vụ. Số lao động trẻ, mới được đào tạo chính quy từ các trường ra là một lực lượng đông đảo và có thể thay thế được các “bậc đàn anh, đàn chị” thì lại chưa tuyển vào được nhiều bởi còn vướng các chỉ tiêu, định mức về lao động, tiền lương…..Số thực sự giỏi đảm bảo chất lượng lại tìm đến các khách sạn liên doanh với nước ngoài vì ở đó có thu nhập cao gấp nhiều lần so với thu nhập ở các khách sạn quốc doanh.
Trong thực tế, cũng có những khách sạn quốc doanh khắc phục được những khó khăn nêu trên như: Khách sạn Rex (Tổng công ty du lịch thành phố Hồ Chí Minh), khách sạn Hương Giang (Công ty du lịch – khách sạn Hương Giang, Huế), khách sạn Viễn Đông (Công ty du lịch Khánh Hòa), khách sạn Hạ Long (Công ty du lịch Quảng Ninh), khách sạn Hữu Nghị (Công ty du lịch Hải Phòng)….Nhưng những khách sạn loại này cũng chỉ mới có con số “hàng chục” trong khi đó tổng số các khách sạn quốc doanh trên địa bàn cả nước khoảng 1530 thì quả là còn chiếm một tỷ lệ quá khiêm tốn.
Nhiều nhà quản lý hàng đầu trên thế giới đã khẳng định: Các nhà quản lý khách sạn phải chịu trách nhiệm tới 50% chất lượng các sản phẩm dịch vụ trong các khách sạn của mình. Như vậy, tạm coi các nhà quản lý khách sạn giữ một nửa phần trách nhiệm để nâng cao chất lượng sản phẩm trong các khách sạn thì nửa phần còn lại là việc xử lý hai thuộc tính vô hình và hữu hình.
Tóm lại, để nâng cao chất lượng và có được những sản phẩm hoàn chỉnh trong khách sạn quốc doanh, ngành Du lịch cần đồng thời nghĩ đến và giải quyết đồng bộ cả 3 yếu tố: các nhà quản lý, người lao động và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị trong các khách sạn.
Trần Tiến Nghị – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Thêm 13 tập thể và 5 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động

Bà Nguyễn Thị Hoa Lệ – giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình (thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam) được phong tặng danh hiệu Anh hùng.
Tiếp sau 12 tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng đợt ngày 3 tháng 2 năm 2000, vừa qua Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho 13 tập thể và 5 cá nhân đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới từ năm 1989 đến năm 1999 trong đó có bà Nguyễn Thị Hoa Lệ, giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Anh hùng lao động Nguyễn Thị Hoa Lệ sinh ngày 12 tháng 3 năm 1957, quê quán Bình Định, hiện là Bí thư chi bộ kiêm giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ năm 1976 đến năm 1988 bà công tác trong ngành văn hóa – Thông tin của Thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5 năm 1988 bà Hoa Lệ chuyển về công tác tại bộ phận phía Nam của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ năm 1989 đến nay bà là giám đốc kiêm bí thư chi bộ của Công ty Du lịch Hòa Bình. Bà là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa 7, 8. Trong năm 1989 đến năm 1999 ở cương vị lãnh đạo, bà Nguyễn Thị Hoa Lệ đã có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc. Trước hết, đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm, lao động sáng tạo quên mình, đạt năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác cao, góp phần đưa Công ty Du lịch Hòa Bình từ một đơn vị nhỏ bé, sau 10 năm đã trở thành một đơn vị tiêu biểu trong ngành Du lịch Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng cho đất nước. Nếu như năm 1989 tổng doanh thu của đơn vị chỉ đạt là 0,069 tỷ đồng, nộp ngân sách được 3,5 triệu đồng thì đến năm 1998, đơn vị đã đạt tổng doanh thu là 62,25 tỷ đồng, nộp ngân sách được là 3,97 tỷ đồng. Cùng với tập thể cán bộ trong Công ty, bà Hoa Lệ là người đã đi đầu trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới đem lại hiệu quả cao về kinh tế – xã hội. Nhờ trang bị hệ thống đặt và giữ chỗ hiện đại, Công ty Du lịch Hòa Bình là đơn vị đầu tiên được Hàng không thử nghiệm bán vé từ đầu nước ngoài vào. Từ năm 1994 đến năm 1995 Công ty cũng là một trong những đơn vị đầu tiên của ngành sử dụng công nghệ thông tin trong tuyên truyền quảng bá Du lịch và hiện đại hóa điều kiện làm việc. Các phương tiện vận chuyển khách của đơn vị cũng được liên tục đổi mới bằng các loại xe chất lượng cao nhằm phục vụ khách tốt nhất. Ngoài việc không ngừng trau dồi trình độ nghiệp vụ bản thân, bà Hoa Lệ còn đầu tư nhiều công sức cho kế hoạch đào tạo con người của Công ty. Nhờ vậy trong số hơn 200 cán bộ, nhân viên của đơn vị đến nay 100% đã được đào tạo tại chỗ về các mặt nghiệp vụ, 16 cán bộ chủ chốt được đào tạo về quản lý, 18% cán bộ công nhân viên được đào tạo ở nước ngoài. Trong 10 năm lãnh đạo Công ty Du lịch Hòa Bình cũng như suốt 25 năm tham gia cách mạng, bà Hoa Lệ luôn chấp hành tốt luật pháp Nhà nước, gương mẫu trong cuộc sống. Với ý thức nêu cao tinh thần hợp tác tương trợ, bà luôn là hạt nhân trong đơn vị. Bà Nguyễn Thi Hoa Lệ đã được nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương lao động hạng 1, 1 huân chương lao động hạng 2, 1 huân chương lao động hạng 3, huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, huy chương bảo vệ an ninh Tổ quốc và nhiều phần thưởng khác.
P.V.L-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Đêm kinh hoàng của đời lái taxi

Tin thêm về vụ hành hung lái xe Công ty Du lịch 12 (Hà Nội) – Cần xử lý đúng người, đúng tội
Sau khi điều động anh Đỗ Bá Khôi đánh xe 158 đến đón anh Trần Đức Long tại phố Phan Bội Châu, Trung tâm điều hành taxi 12 (Công ty Du lịch 12) bỗng mất liên lạc với lái xe. Người trực tổng đài linh cảm có chuyện chẳng lành nhưng không thể ngờ được những gì lái xe Khôi phải chịu đựng.
Hỏi thăm gần “mòn lưỡi” tôi mới tìm được nhà anh Khôi nằm tít sâu trong xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Dù còn rất yếu, anh Khôi vẫn gắng gượng kể lại cái đêm khủng khiếp ấy.
“…Sầm tối, tôi ra xe đợi anh Long thanh toán tiền taxi. Bỗng bốn thanh niên phóng xe máy đến đấm túi bụi vào mặt tôi làm máu cháy ướt cả áo. Tôi định về công ty báo thanh tra thì một nhân viên nhà hàng Ngư Thuyền chặn xe lại bảo anh Long gọi vào trả tiền. Tôi vào thấy anh Long mặt mũi thâm tím, người lả đi, xung quanh là Phúc và bốn thanh niên vừa đánh tôi. Chúng bắt tôi xem cảnh tra khảo: một thằng béo đen cầm búa đập đá đánh liên hồi vào đầu gối anh Long. Phúc đứng “chỉ đạo nghệ thuật” chúng mày chỉ đánh vào bụng thôi, đánh vào mặt có vết đấy. Đánh chán, chúng quay sang vặn hỏi có phải tôi cùng anh Long cướp xe taxi rồi đến đây ăn nhậu định quịt tiền phải không ? Tôi vừa nói không phải, Phúc đạp ngay vào ngực làm tôi ngã lăn ra đất. Một thằng bảo đại ca cứ để em rồi bốn thằng xông vào đấm đá dồn dập vào bụng, ngực. Chúng đánh thành thạo, nhanh tới mức tôi không kịp mở miệng kêu van. Đau quá tôi trèo cửa sổ nhảy xuống hồ, thằng béo đen nhảy theo tôi lôi lên đánh tiếp vì tội “định trốn” ! Lúc sau Phúc nằm ườn trên sa lông hỏi tôi và anh Long muốn sống hay muốn chết ? Nếu muốn sống Long phải viết giấy nợ nhà hàng 400 USD, tôi nợ tiền đặt ô tô lại. Xong xuôi đâu đấy trời đã gần sáng, chúng thả tôi ra. Sau khi đến bệnh viện khâu mặt, khám chứng thương, tôi đến Công an phường Giảng Võ tường trình thấy anh Long, Phúc, hai nhân viên bảo vệ không đánh chúng tôi ngồi đó….”
Kể đến đó, anh Khôi ôm ngực ho rũ rượi. Dù “đêm kinh hoàng” cách đây đã gần hai tuần, ngực anh vẫn tím đỏ nhiều chỗ, xương quai xanh sưng to, thở rất khó nhọc. Mấy hôm đầu, anh không dám cởi áo sợ vợ con nhìn thấy ngực mình sẽ chết khiếp. Đặng Kim Loan – chủ nhà hàng Ngư Thuyền nhiều lần tìm đến nhà anh Khôi biếu tiền quà và “thanh minh” rằng đêm đó nhân viên say quá nên….lỡ tay. Còn thằng béo đen (đánh tích cực nhất) chỉ là khách, tưởng hai anh quịt tiền mới bất bình (!?). Bà Loan còn năn nỉ anh Khôi ký vào đơn hòa giải (viết sẵn), nếu không lũ đàn em trời nóng nực phải ngồi trong phòng giam thì khổ sở lắm (!). Bà chủ ma mãnh giàu lòng thương người này chẳng lẽ không biết ngồi trong phòng giam có khổ sở bằng bị lũ đầu trâu mặt ngựa đánh suốt đêm ?
Quen thói xử bằng luật rừng
Đặng Kim Loan (sinh năm 1958, trú tại 3B tập thể Đường sắt, đường Láng Hạ, Hà Nội) khai mua lại nhà hàng nổi Ngư Thuyền trên hồ Giảng Võ từ 1/7/1999, đang trong thời gian sửa chữa (nhưng thực chất vẫn kinh doanh bar, karaoke trái phép). Công an quận Ba Đình đã tạm giam, khởi tố hình sự ba bị can Giang Văn Phúc quản lý nhà hàng Ngư Thuyền, sinh năm 1956 trú tại phòng 306, G6A tập thể Thành Công; Giang Mạnh Hồng (cháu Phúc) trú tại Trưng Yên, Hoa Lư, Ninh Bình; Dương Công Khoa trú tại Cẩm Duệ, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh cùng làm bảo vệ tại nhà hàng. Theo lời khai của một nữ tiếp viên, trong lúc khách và nhân viên nhà hàng cãi nhau, Phúc đã gọi điện cho bốn tên côn đồ. Thiếu tá Nguyễn Hữu Ngạn đội Cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình cho biết:
-Phúc, Hồng, Giang chỉ nhận đánh bằng chân, tay, không nhận gọi côn đồ đến. Cơ quan điều tra đang làm rõ hai tình tiết này và tiếp tục truy bắt những đối tượng còn lại. Dù vì lý do gì, hành vi của bọn này vẫn là côn đồ, coi thường pháp luật, tính mạng người khác. Riêng Đặng Kim Loan, chúng tôi sẽ xử phạt hành chính vì kinh doanh trái phép.
-Theo anh, xu hướng giải quyết quan hệ dân sự bằng “luật rừng” hiện nay đang có xu hướng gia tăng ?
-Đúng vậy, một số đối tượng không tìm đến cơ quan pháp luật để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn mà thuê mướn côn đồ hay trực tiếp xử lý đối phương bằng “luật rừng”. Hiện nay chúng tôi đang tập trung đấu tranh với loại đối tượng này.
Theo Giám đốc Trung tâm taxi 12 Đoàn Mạnh Thanh, bọn côn đồ đã đập phá xe taxi 158 gây thiệt hại 4 triệu đồng, cướp tiền và giấy tờ của lái xe. Thiết nghĩ trong khi chờ đợi kết quả giám định tỷ lệ thương tật của nạn nhân, cơ quan điều tra cần làm rõ những tình tiết đó để xử lý những gã côn đồ quen thói hành hung người, góp phần ngăn chặn xu hướng giải quyết quan hệ bằng “luật rừng” hiện đang có chiều gia tăng.
Trịnh Hiếu – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Đồng chí Võ Thị Thắng công tác tại cộng hòa Cuba

Từ ngày 7 đến 14 tháng 7 năm 1999, đồng chí Võ Thị Thắng – Ủy viên Trung Ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đi thăm Cộng hòa Cuba trong thành phần đoàn đại biểu cấp cao Đảng cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Lê Khả Phiêu dẫn đầu. Trong thời gian ở Cuba, ngoài tham gia các hoạt động của đoàn, đồng chí Võ Thị Thắng đã thăm một số cơ sở du lịch ở Havana, Vadarero và làm việc với Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Du lịch Cuba. Tại buổi hội đàm, hai bên đã thông báo tình hình phát triển du lịch của mỗi nước, kinh nghiệm quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý các cơ sở du lịch và vui mừng nhận thấy rằng, dù còn nhiều khó khăn song trong những năm gần đây ngành du lịch mỗi nước đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Hai bên cũng trao đổi về khả năng hợp tác giữa hai ngành và việc ký kết Hiệp định hợp tác du lịch giữa hai nước trong thời gian tới. Cũng nhân dịp này, đồng chí Võ Thị Thắng đã thông báo cho phía Cuba nội dung cơ bản của Pháp lệnh du lịch, Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000 nhằm đưa Việt Nam trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới. Đồng thời, phía Việt Nam cũng đã đưa ra dự thảo Hiệp định hợp tác du lịch Việt Nam – Cuba, Đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã có lời mời đồng chí Bộ trưởng Du lịch Cuba sang thăm Việt Nam và ký hiệp định sau khi đàm phán.
Tại các nơi tới thăm, đoàn đã được phía bạn đón tiếp hết sức chân thành và nồng nhiệt.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 52 ngày thương binh liệt sĩ 27/7 – Cơ quan Tổng cục Du lịch chăm sóc các đối tượng chính sách
-Thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, cách đây 4 năm, tháng 9/1995, Công đoàn Cơ quan Tổng cục Du lịch đã nhận chăm sóc nuôi dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thiểm. Mẹ ở xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam,đã có chồng và 2 con trai là Thanh Thiểm, Thanh Lâm, hy sinh ở chiến trường miền Nam năm 1972, 1973. Mẹ Nguyễn Thị Thiểm, bản thân cũng là thương binh 4/4. Công đoàn cơ quan Tổng cục Du lịch đã phát động quỹ ủng hộ 1 ngày lương của toàn đoàn viên công đoàn trong đợt vận động đầu tiên và mỗi tháng gửi tiền thăm nuôi mẹ Thiểm 200.000 đồng từ tháng 9/1995 đến nay. Gần đây Công đoàn, cơ quan Tổng cục Du lịch lại quyết định xây dựng nhà tình nghĩa cho mẹ Thiểm tại xã Đại Đồng. Ngày 13/5/1999 đã chuyển 10.000.000 đồng cho mẹ. Số tiền còn lại Công đoàn Tổng cục sẽ gửi sau khi xây dựng nhà xong.
-Không chỉ thăm hỏi, tặng quà cho những cán bộ thương binh, gia đình liệt sĩ vào dịp 27/7. Trong nhiều năm qua, cơ quan Tổng cục Du lịch còn tích cực tham gia vào các phong trào ủng hộ tiền, quần áo, thuốc men cho những vùng bị thiên tai ở miền Trung; ủng hộ 1.217.000 đồng cho trẻ em bị chất độc màu da cam.
-Hàng năm công đoàn cơ quan đã tổ chức cho cán bộ, nhân viên đang làm việc, hoặc đã và đang nghỉ hưu đi nghỉ mát 3 ngày ở các điểm du lịch miền Trung, hoặc miền núi. Trong các chuyến đi này đều mời bác sĩ đi cùng để chăm sóc sức khỏe và đề phòng rủi ro cho những người tuổi già, sức yếu.
-Hằng năm cứ vào ngày 27/7 cơ quan Tổng cục Du lịch tổ chức cuộc họp thân mật với các thương binh, gia đình liệt sĩ, trong không khí thăm hỏi ấm áp tình nghĩa của gia đình du lịch và tặng quà cho các cá nhân, gia đình trong các dịp lễ, tết.
Những hoạt động này đã góp phần quan trọng xây dựng tình cảm gắn bó đầm ấm giữa những người đang làm việc tại chức với những thương binh, gia đình liệt sĩ, và những người đang nghỉ hưu trong ngành.
Đ.C – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Mượn áo đỏ che tim đen

Thành nhận được một thông báo có ký tên và đóng dấu đỏ do Tổng giám đốc Trần Trung ký. Anh đọc đi đọc lại nhiều lần “… khách sạn Dòng Sông xanh đến hết tháng 12 năm 1989 phải có đủ 50% tổng số phòng để đón năm du lịch của Việt Nam…”. Người viết thông báo rõ ràng có hai mục đích không ai có thể bắt bẻ được, đó là chuẩn bị cho năm du lịch của Việt Nam, thành phố đang thiếu phòng đủ tiêu chuẩn quốc tế. Mặc nhiên, các khách sạn lớn phải là nhưng đơn vị chủ lực, phải chuẩn bị để đón khách quốc tế đến thăm thành phố và lẽ tự nhiên, những đơn vị hạch toán độc lập phải tự lo nâng cấp theo cơ chế mới về quyền tự chủ của các doanh nghiệp. Anh sực nhớ hôm họp giao ban, Tổng Giám đốc Trần Trung bóng gió nói rằng “Các giám đốc phải tự lo sản xuất – kinh doanh theo lệnh của Tổng Giám đốc, tiền vốn của Tổng công ty chỉ tập trung cho đơn vị mũi nhọn, ai không làm được sẽ xử lý theo kỷ luật Đảng…”, nghĩa là khách sạn của anh sẽ chẳng có một đồng vốn nào chi viện từ phía cấp trên, anh phải tự lo sửa chữa, nâng cấp khách sạn và anh sẽ bị kỷ luật nếu không chấp hành tốt mệnh lệnh, lại là kỷ luật Đảng. Nhìn vẻ mặt của Trần Trung sau chuyến đi nước ngoài về với dáng tự đắc, hắn kể bao nhiêu là chuyện hay của nước ngoài nào là cả thành phố, cả nước Singapore ở ngoài đường không lấy một cọng rác, một hạt bụi nào; nào là hắn đã từng ở khách sạn 4 sao, 5 sao. Hắn giải thích khách sạn 3 sao là khách sạn phải đủ tiện nghi, phòng phải có ánh sáng phản quan nghĩa là không phải ánh sáng trực tiếp, phải có dimer điều chỉnh ánh sáng đèn ngủ, phải có ổ khóa điện, cắm bản chìa khóa vào ổ là có điện trong phòng, rút bản chìa khóa ra là điện tự động tắt. Hắn giơ bốn ngón tay làm ra bộ bản chìa khóa với sự khâm phục, xen lẫn một cái gì đó mà Việt Nam không làm được, rồi trong phòng đủ các dịch vụ giải trí như TV 12 kênh, máy lạnh chạy êm ro chẳng nghe tiếng kêu dù là rất nhỏ. Hắn còn lên giọng “đất nước Việt Nam anh hùng đâu không biết, chỉ thấy nghèo, ở dơ và nhục, đến đất bạn tôi không dám nói mình là người Việt Nam vì người Việt Nam đủ thứ tật xấu…”. Thành sững sờ, anh nhìn hắn đang nói tiếng Việt trước những người Việt Nam mà ngỡ như người ở đâu đến, xa lạ; hắn là người Việt Nam mà chối bỏ dòng máu của mình, của dân tộc mình, không trách một số người, thậm chí là cán bộ cao cấp chỉ mới đến Mỹ, đến Pháp vài lần đã bỏ đất nước, đã nói, đã viết mà không sợ tội với chính bản thân mình, cha mẹ mình. Vậy đó, mới biết “có tiền mua tiên cũng được”, có kẻ có tiền mua được tất cả mọi thứ và loại người thiếu tiền, họ cần tiền tới mức bán cả lương tâm của mình; thảo nào người xưa đưa ra lời khuyên “nghèo cho sạch rách cho thơm” thật là vô cùng đúng đắn cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Hắn vẫn tiếp tục rao giảng việc hay của nước người cũng như chê bai dân tộc này, một đất nước đã đẻ ra hắn cho hắn ăn học, đã cứu cánh cho cuộc đời hắn. Cuối cùng, hắn tung ra một luận thuyết “rừng vàng biển bạc nhưng nếu để nằm yên thì rồi nghèo vẫn cứ nghèo, cần phải cho người nước ngoài đến để khai phá, để đưa văn minh đến cho Việt Nam, Việt Nam chỉ giỏi đánh nhau, còn xây dựng kinh tế thì… “hắn nói rõ hơn là cần có nước ngoài đến để dạy cho ta cung cách quản lý tiên tiến” ai làm ra vàng, ra bạc là yêu nước”. Thành đi từ ngạc nhiên đến bất ngờ, chẳng lẽ vừa mới đây cũng Trần Trung, là một cấp lãnh đạo có uy tín, xa hơn hắn đã từng là một người hoạt động cách mạng, hắn đã từng khoe hắn chiến đấu ra sao, hoạt động trong lòng địch thế nào, hắn đã tuyên bố đứng trên lập trường giai cấp công nhân trung thành với Đảng, ở kỳ Đại hội Đảng vừa rồi hắn đã được bầu vào cấp. Vậy mà, mới chỉ có 10 ngày đi nước ngoài về hắn không muốn mang dòng máu Việt Nam nữa…
Bảng thông báo bằng giấy chỉ bằng bốn bàn tay người lớn, nhưng nó có một sức mạnh ghê gớm, nếu ai đâm đầu vào sẽ bị nó quật cho tơi tả. Nó chính là bức tường ngăn cản bất cứ ai dám bứt ra khỏi khuôn phép đã có sẵn, một khuôn phép do những người có quyền lực tạo ra chẳng cần biết nó có đúng với quy luật hay không, nhiều khi nó chỉ là một quy định của một tầng lớp cát cứ, cũng làm y như một ông vua của một vùng, nó được ẩn trong lớp vỏ bọc của nhiệm vụ chính trị, không hoàn thành nhiệm vụ chính trị thì bị kỷ luật Đảng… Thành hiểu kỷ luật của Đảng nghiêm minh. Hồi còn ở trong quân đội, những năm tháng chiến đấu được đứng dưới ngọn cờ của Đảng là niềm vinh hạnh, Đảng viên, đồng nghĩa với hy sinh trước, gương mẫu trong hành động. Thành đã trằn trọc không biết bao nhiêu đêm, tự vấn mình có gì chưa xứng đáng để trở thành Đảng viên, anh ao ước được trở thành Đảng viên để cống hiến, để hy sinh và anh cũng rất sợ bị kỷ luật vì phẩm chất sa sút, vì không hoàn thành nhiệm vụ Đảng viên. Hồi ấy, anh và các bạn của anh coi kỷ luật của Đảng là điều hiển nhiên, rằng kỷ luật sẽ đến nếu mình xấu và bọn anh sợ kỷ luật một cách tự giác. Suốt cuộc đời ở trong hàng ngũ của Đảng, anh chưa bao giờ thấy việc lấy kỷ luật ra để đe dọa, để mượn cớ thanh toán lẫn nhau; thế mà bây giờ, ở đây Trần Trung đang nói, đang đe dọa, đang muốn dùng kỷ luật đảng để trừng phạt bất cứ ai không nghe lời của hắn hoặc dám làm trái ý của hắn.
Lê Thành Chơn-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Đức vua Lý Thái Tổ – ấn tượng và cảm nhận

Lời dự báo trước 200 năm
Có một câu chuyện buồn như đám mây mù bất ngờ phủ lên niềm vui đăng quang ngôi báu của Lý Thái Tổ chưa được bao lâu. Đó là lời dự báo sự suy vong của nhà Lý, mà đáng chú ý là người ta báo với đích thân nhà vua.
Sự việc xảy ra nhân một hôm xa giá về châu Cổ Pháp, vua đi thăm viếng chùa Phù Đổng. Người ta phát hiện thấy ở cột chùa xuất hiện một bài thơ bằng chữ Hán:
Nhất bát công đức thuỷ
Tuỳ duyên hoá thế gian
Quang quang trùng chiếu chiếu
Một ảnh nhật giang san.
Tạm dịch là:
Dù chỉ một bát nước công đức (của Phật)
Cũng theo duyên sinh hoá ở đời
Dù có sáng bằng hai lần đuốc rọi
Mặt trời gác núi là lúc hết thời.
Thiền sư Vạn Hạnh đem bài thơ dâng lên Lý Thái Tổ. Nhà vua xem xong trầm ngâm bảo rằng: “Việc của Trời Đất, ta không hiểu được”. Mãi hơn 200 năm sau, nhà Lý sụp đổ sau 8 đời vua, người ta mới ngẫm ra sự ứng nghiệm của bài thơ. Dùng phép chiết tự, ta thấy chữ “bát” vừa có nghĩa là bát nước, vừa đồng âm với chữ “bát” là 8 đời. Chữ Sảm (Lý Hạo Sảm, tên của Lý Huệ Tông đời của thứ 8) gồm phần trên là chữ nhật (mặt trời), phần dưới là chữ sơn (núi) có nghĩa là mặt trời gác núi, là lúc hết ngày! Ý rằng: Nhà Lý sinh ra cũng do Trời, mà mất đi cũng do Trời vậy!
Lý Thái Tổ nói: “Việc của Trời Đất, ta không hiểu được”. Có đúng là người không hiểu được chăng? Sắc sắc không không. Trời Đất ở đây, nếu ta nghĩ nôm na là sự kì bí của tạo hoá, là lẽ hưng vong ở đời, thì ở Lý Thái Tổ, một bậc cao thâm đã nói như vậy thì chính là Người đã quá hiểu bài thơ! Nhất là bên cạnh nhà vua lúc nào cũng có Lý Vạn Hạnh đi cùng, mà thiền sư lại vốn là “sư tổ” của những lời tiên tri và sở trường về phép chiết tự. Hay là… tác giả bài thơ lại chính là Lý Vạn Hạnh đây? Vạn Hạnh vốn nổi tiếng là người biết trước nhiều việc bí mật “động trời”!
Sau buổi lễ Phật ở chùa Phù Đổng, Lý Thái Tổ trở về Hoa Lư lo việc dời đô về Thăng Long. Ở kinh đô mới, nhà vua có hàng loạt những quyết sách nhằm xây dựng đất nước thành một quốc gia ổn định, dân giàu nước mạnh như: Hoà hảo với nhà Tống, chấn hưng đạo Phật với tư cách là một học thuyết về đạo đức xã hội, củng cố bộ máy hành chính, tổ chức lại quân đội, định ra các lề luật về thuế khoá các loại: đặc biệt là xá thuế cho dân hai lần, mỗi lần ba năm liền và nhiều nghĩa cử khác đối với những người không nơi nương tựa, những dân tộc thiểu số v.v… Ấn tượng về một ông vua có nếp sống đạo lý là nét chủ đạo trong tính cách của Lý Thái. Các đời vua sau cũng chịu ảnh hưởng ở ông Tổ của mình một cách sâu sắc. Theo ý kiến của nhiều vị tăng sĩ thì chính điều đó đã làm cho triều Lý – tuy vẫn là 8 đời – nhưng khá dài lâu; những triều đại sau, dù có nhiều đời vua hơn nhưng khí số lại hơi ngắn ngủi.
Nhà sử học Lê Văn Hưu hết sức ca tụng đức độ của Lý Thái Tổ. Rằng nhà vua làm nhiều việc nhân đức chính là “để phúc” lại cho con cháu. Điều đó chúng ta có thể hoàn toàn hiểu được ở cội nguồn của nhà vua vốn là một chàng trai chân đất đã làm nên một sự nghiệp hiển hách và một triều đại nức tiếng tốt đẹp. Và sự nghiệp ấy, triều đại ấy dù có nổi tiếng cả về võ công lẫn văn trị cũng không làm ông choáng váng và sống cách xa dân chúng. Rằng lai lịch của ông dù có điều kỳ dị khác thường cũng chỉ là cái vẽ bên ngoài có thể gây nên tranh cãi và tăng tính hấp dẫn mà thôi. Lý Thái Tổ biết lo cho dân trước cái lo cho bản thân mình. Còn đức tính nhân hoà khoan thứ vốn là bản chất của ông.
Lý Thái Tổ mất đi sau khi làm vua 18 năm, năm ông 54 tuổi, để lại một vương triều tồn tại gần 200 năm nữa. Tuy nhiên tầm lớn lao của Lý Thái Tổ không thể diễn đạt được bằng những con số và những lời văn vẻ. Mà chỉ có thể bằng những ấn tượng mà ông để lại và sự cảm nhận của chúng ta.
Sơn Phong – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999