Hãy cứu lấy làng tranh Đông Hồ

Đã từng có một thời, những bức tranh Đông Hồ được coi là vật không thể thiếu trong mỗi gia đình vùng Kinh Bắc và nhiều vùng trên khắp nước ta trong ngày xuân, ngày tết. Và cũng đã từ rất lâu, những bức tranh Đông Hồ bất hủ: những “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh Ghen”… đã được đặt trang trọng trong các bảo tàng nghệ thuật danh tiếng khắp Á, u…. Như một niềm vinh quang của nền hội họa dân gian Việt Nam. Khác hẳn với các loại tranh nghệ thuật khác, không phải văn hóa, cầu kì cũng không có nét trau chuốt tinh xảo cả trong bố cục lẫn nội dung, tranh Đông Hồ được tạo nên bởi thẩm mỹ nghệ thuật đầy tinh tế, sự khéo léo nhẫn nại của những nghệ nhân, bằng những phương pháp thủ công với chất liệu được chắt lọc hoàn toàn từ thiên nhiên. Một bức tranh Đông Hồ thường được phối hợp bởi 5 màu sắc truyền thống. Chất điệp chế từ vỏ sò, vỏ ốc của vùng biển Quảng Ninh hòa với kẹo tạo thành màu trắng ngà, sáng điệp óng ánh. Màu vàng tươi lấy từ hoa hòe, rơm nếp… Màu xanh da trời trong sáng được chiết xuất từ gỉ đồng. Màu đỏ nồng nàn, ấm áp được tạo từ gỗ cây vang. Màu đen tuyển nền nã được gạn lọc từ than lá cây tre. Tất cả được in trên nền giấy đó bằng những bản khắc gỗ. Gỗ để làm bẳn khắc phải là gỗ vàng tâm, gỗ thị, gỗ mít thì nét khắc mới sắc sảo, bản khắc mới ăn màu và bền với thời gian. Không phải chỉ độc đáo ở chất liệu tạo thành mà sức hấp dẫn cơ bản trong những bức tranh Đông Hồ còn được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục được toát lên từ cái chủ đề dân dã có nội dung giáo dục đối với con người. Mặc dù có rất nhiều thể loại như: tranh thơ, tranh chúc tụng, tranh vẽ theo truyện, theo phương ngôn, tranh sinh hoạt…. song các bức tranh Đông Hồ đều thể hiện những cảm nhận nhân ái về vạn vật, biểu bạt những khát vọng mãnh liệt về một cuộc sống thịnh vượng, sinh sôi rất đặc trưng cho tính cách tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đúng như cảm nhận của nhà thơ Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống”.
“…Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…”
Làng tranh Đông Hồ nay thuộc xã Sông Hồ huyện Thuận Thành – Bắc Ninh. Làng có 10 dòng họ lớn với 3 dòng tranh dân gian: Hàng Trống, Kim hoàng, và Đông Mái. Hiện chỉ còn tồn tại tranh Đông Hồ và cái tên cổ “Láng mái” như trong câu ca dao:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh…
Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng ở làng Đông Hồ thì nghề tranh đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm, đến nay đã được 20 đời theo nghề truyền thống. Những bức tranh ông Bụt, tranh thần Độc Cước đã được in rất nhiều ở đây từ thời Lý. Nghề tranh Đông Hồ đã từng cực thịnh qua Lý – Trần – Lê…đến mãi những năm đầu thế kỷ này… ở Làng Hồ nay vẫn còn một di tích lịch sử gắn liền với truyền thống nghề tranh là đình Đông Hồ – đình Tranh. Bao nhiêu năm trước đây, ngôi đình cổ kính này từng là địa điểm họp chợ tranh. Cứ từ mồng 6 tháng chạp cho tới Tết âm lịch, khách khứa, lái buôn từ tứ phương lại đổ về nơi đây để họp chợ, mua tranh… Tranh Đông Hồ từ đó tỏa đi rực rỡ khắp các chợ quê, đem lại niềm vui cho bao mái ấm gia đình ngày Tết. Chợ tranh hôm nay không còn hợp nữa, cảnh tấp nập, nhộn nhịp xưa chỉ còn trong kí ức, trong hoài niệm làm ngẩn ngơ tâm trí bao người. Tranh Đông Hồ, một nghệ thuật lừng danh cho xứ Bắc nói riêng và cả dân tộc nói chung, đang bị mai một dần đi. Trong nền kinh tế thị trường, vì nhiều nỗi lo toan cho cuộc sống, dân làng Hồ này không còn mặn mà với nghệ thuật làm tranh như trước nữa. Con số những gia đình nghệ nhân còn gắn bó với nghề tranh chỉ là một là hai trong số hơn 130 hộ gia đình của làng. Tiếc thay nghề tranh Đông Hồ nay đã phải chuyển sang nghề làm hàng mã… Thực trạng này đặt ra những câu hỏi bức xúc cần được giải quyết: “Phải làm gì để giúp nghề tranh Đông Hồ?”. “Phải làm gì để gìn giữ dòng nghệ thuật hội họa quý giá cho các thế hệ mai sau?”.
Nguyễn Khánh Minh-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (9(61))2000

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *