Đức vua Lý Thái Tổ – ấn tượng và cảm nhận

Lời dự báo trước 200 năm
Có một câu chuyện buồn như đám mây mù bất ngờ phủ lên niềm vui đăng quang ngôi báu của Lý Thái Tổ chưa được bao lâu. Đó là lời dự báo sự suy vong của nhà Lý, mà đáng chú ý là người ta báo với đích thân nhà vua.
Sự việc xảy ra nhân một hôm xa giá về châu Cổ Pháp, vua đi thăm viếng chùa Phù Đổng. Người ta phát hiện thấy ở cột chùa xuất hiện một bài thơ bằng chữ Hán:
Nhất bát công đức thuỷ
Tuỳ duyên hoá thế gian
Quang quang trùng chiếu chiếu
Một ảnh nhật giang san.
Tạm dịch là:
Dù chỉ một bát nước công đức (của Phật)
Cũng theo duyên sinh hoá ở đời
Dù có sáng bằng hai lần đuốc rọi
Mặt trời gác núi là lúc hết thời.
Thiền sư Vạn Hạnh đem bài thơ dâng lên Lý Thái Tổ. Nhà vua xem xong trầm ngâm bảo rằng: “Việc của Trời Đất, ta không hiểu được”. Mãi hơn 200 năm sau, nhà Lý sụp đổ sau 8 đời vua, người ta mới ngẫm ra sự ứng nghiệm của bài thơ. Dùng phép chiết tự, ta thấy chữ “bát” vừa có nghĩa là bát nước, vừa đồng âm với chữ “bát” là 8 đời. Chữ Sảm (Lý Hạo Sảm, tên của Lý Huệ Tông đời của thứ 8) gồm phần trên là chữ nhật (mặt trời), phần dưới là chữ sơn (núi) có nghĩa là mặt trời gác núi, là lúc hết ngày! Ý rằng: Nhà Lý sinh ra cũng do Trời, mà mất đi cũng do Trời vậy!
Lý Thái Tổ nói: “Việc của Trời Đất, ta không hiểu được”. Có đúng là người không hiểu được chăng? Sắc sắc không không. Trời Đất ở đây, nếu ta nghĩ nôm na là sự kì bí của tạo hoá, là lẽ hưng vong ở đời, thì ở Lý Thái Tổ, một bậc cao thâm đã nói như vậy thì chính là Người đã quá hiểu bài thơ! Nhất là bên cạnh nhà vua lúc nào cũng có Lý Vạn Hạnh đi cùng, mà thiền sư lại vốn là “sư tổ” của những lời tiên tri và sở trường về phép chiết tự. Hay là… tác giả bài thơ lại chính là Lý Vạn Hạnh đây? Vạn Hạnh vốn nổi tiếng là người biết trước nhiều việc bí mật “động trời”!
Sau buổi lễ Phật ở chùa Phù Đổng, Lý Thái Tổ trở về Hoa Lư lo việc dời đô về Thăng Long. Ở kinh đô mới, nhà vua có hàng loạt những quyết sách nhằm xây dựng đất nước thành một quốc gia ổn định, dân giàu nước mạnh như: Hoà hảo với nhà Tống, chấn hưng đạo Phật với tư cách là một học thuyết về đạo đức xã hội, củng cố bộ máy hành chính, tổ chức lại quân đội, định ra các lề luật về thuế khoá các loại: đặc biệt là xá thuế cho dân hai lần, mỗi lần ba năm liền và nhiều nghĩa cử khác đối với những người không nơi nương tựa, những dân tộc thiểu số v.v… Ấn tượng về một ông vua có nếp sống đạo lý là nét chủ đạo trong tính cách của Lý Thái. Các đời vua sau cũng chịu ảnh hưởng ở ông Tổ của mình một cách sâu sắc. Theo ý kiến của nhiều vị tăng sĩ thì chính điều đó đã làm cho triều Lý – tuy vẫn là 8 đời – nhưng khá dài lâu; những triều đại sau, dù có nhiều đời vua hơn nhưng khí số lại hơi ngắn ngủi.
Nhà sử học Lê Văn Hưu hết sức ca tụng đức độ của Lý Thái Tổ. Rằng nhà vua làm nhiều việc nhân đức chính là “để phúc” lại cho con cháu. Điều đó chúng ta có thể hoàn toàn hiểu được ở cội nguồn của nhà vua vốn là một chàng trai chân đất đã làm nên một sự nghiệp hiển hách và một triều đại nức tiếng tốt đẹp. Và sự nghiệp ấy, triều đại ấy dù có nổi tiếng cả về võ công lẫn văn trị cũng không làm ông choáng váng và sống cách xa dân chúng. Rằng lai lịch của ông dù có điều kỳ dị khác thường cũng chỉ là cái vẽ bên ngoài có thể gây nên tranh cãi và tăng tính hấp dẫn mà thôi. Lý Thái Tổ biết lo cho dân trước cái lo cho bản thân mình. Còn đức tính nhân hoà khoan thứ vốn là bản chất của ông.
Lý Thái Tổ mất đi sau khi làm vua 18 năm, năm ông 54 tuổi, để lại một vương triều tồn tại gần 200 năm nữa. Tuy nhiên tầm lớn lao của Lý Thái Tổ không thể diễn đạt được bằng những con số và những lời văn vẻ. Mà chỉ có thể bằng những ấn tượng mà ông để lại và sự cảm nhận của chúng ta.
Sơn Phong – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *