Đèo Hải Vân qua các thời kỳ lịch sử – Phần 1

Vua Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) trong dịp kinh lý miền Nam đã đặt tên cho đèo Hải Vân là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Thiên hạ đệ nhất hùng quan có nghĩa là quan ải đẹp nhất, hùng vĩ nhất mà khắp bầu trời thiên hạ không nơi nào có thể sánh nổi.

Vào thời Hậu Lê và sau đó là thời Nguyễn, người dân ở Huế và Đà Nẵng ai cũng biết câu ca:
Đi bộ thì khiếp Hải Vân
Đi thủy lại sợ sóng thần Hang Giơi.
Đi bộ thì khiếp Hải Vân vì thời đó đường vượt đèo chỉ là những con đường mòn vắt qua núi. Hai bên đường toàn là rừng già nhiều tầng, cây cối mọc um tùm nên khách qua lại đèo rất sợ hổ và cướp.
Vào thời Minh Mạng (1820 – 1840), đường đèo được mở rộng, lấy đá xếp thành bậc để người và ngựa qua lại dễ dàng. Vào nửa sau thế kỷ 18, Hải Vân quan trở thành cửa ải “nồi da nấu thịt”, là cửa ải phân định ranh giới đàng trong và đàng ngoài. Năm 1788, Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc và chỉ một trận đánh đã xóa bỏ vĩnh viễn ranh giới này.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, người Pháp đã tiến hành xây dựng đường xe lửa và đường ô tô vượt qua đèo nằm trên trục đường quốc lộ 1A xuyên Bắc, Nam. Đườg sắt vượt qua đèo, đi sát ven biển để tránh dốc núi. Vì vậy đường phải qua những cầu cạn và đường hầm đào trong núi. Các hầm có chiều dài tổng cộng 3290m, gồm 7 hầm, cái ngắn nhất là 85m, cái dài nhất là 562m nằm ở sườn phía Nam đèo. Tuy chạy sát biển, song nền đường sắt còn cao 132m so với mặt biển.
Khách qua lại Huế – Đà Nẵng, đa số vượt đèo bằng tàu hỏa vì đường êm ả, không có dốc và an toàn. Ngoài ra khách còn có dịp ngắm cảnh trời, mây, nước và biển cả ở vùng chân đèo Hải Vân.
Đường ô tô vượt qua đèo ở độ cao 496m trên mặt biển. Đèo nằm trên núi Hải Vân có đỉnh cao 1172m, quanh năm mây mù che phủ và là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ra biển. Vì núi có đầu đội mây, chân ở biển nên núi có tên Hải Vân và đèo vượt qua cũng mang tên dãy núi.
Từ chân đèo phía Bắc, ô tô vượt đèo phải leo và lượn hơn 60 khúc ngoặt hình chữ chi, dài trên 10km. Từ đỉnh đèo xe xuống dốc đi về Đà Nẵng cũng phải lượn hơn 60 khúc ngoặt, vừa quay, vừa đổ dốc rất nguy hiểm trên một chiều dài cũng khoảng 10km, tổng cộng cả lên, xuống đèo 21km.
Sau ngày giải phóng miền Nam (1975), do nhu cầu cao về giao thông qua lại đèo, Chính phủ ta đã mở rộng đường đèo, thiết lập những trạm cứu nạn cho xe và khách qua đèo. Mỗi ngày có tới 2000 xe ô tô qua lại đèo.
Lê Trọng Túc – Du Lịch – Tổng cục du lịch Việt Nam – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(352)2004

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *