Đến quyết toán khống – Phần 1

Có thể nói Công ty không từ một thương vụ nào để đục khoét tiền của Nhà nước. Tiêu thụ 601.360 kg muối iot tại trung tâm các huyện nhưng lại quyết toán là tiêu thụ tại…xã (hưởng trợ cước vận chuyển hơn 105 triệu đồng)!. Thanh toán hơn 135 triệu đồng tiền vận chuyển 1.524.534 kg muối cho 7 cán bộ thuộc Công ty sai quy định của chính Công ty. Qua kiểm tra cho thấy 2/7 người thông đồng với kế toán sửa chữa, lập chứng từ khống làm ô 15,8 triệu đồng. Trong năm 1998, Công ty đã nhập kho sản xuất và tiêu thụ 497.980 kg muối xay. Sang năm 1999, Công ty lại dùng lượng muối vô hình này quyết toán khống hơn 76 triệu đồng trợ cước vận chuyển!…Cùng với nhiều thương vụ ma quái khác, Công ty đã quyết toán khống hơn 463 triệu đồng (Thanh tra tỉnh đã quyết định truy thu 327.356.970 đồng).
Như vậy trong hai năm 1998-1999, chỉ tính riêng việc thực hiện chính sách TGTC đối với hai mặt hàng muối, than đá, Công ty đã làm ngân sách Nhà nước thiệt hại hơn 1,843 tỷ đồng. Ông Cao Đức Khiêm – Chánh thanh tra tỉnh khẳng định: trách nhiệm chính thuộc về giám đốc Lê Văn Hoàng và kế toán trưởng Vũ Thị Thường. Ngoài ra, một số cá nhân thuộc Sở tài chính – Vật giá, Sở y tế tỉnh cũng chịu trách nhiệm liên tới. Thanh tra tỉnh kiến nghị với ủy ban nhân dân tỉnh tạm đình chỉ công tác ông Hoàng và bà Thường; chỉ đạo Sở thương mại – Du lịch kiểm điểm 2 phó giám đốc Công ty và các cá nhân liên quan đến sai phạm để xử lý nghiêm.
Theo chúng tôi được biết, mới đây Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc đã thống nhất đề nghị trên Thanh tra tỉnh và chuyển hồ sơ vụ cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, có biểu hiện tham ô tại Công ty Kinh doanh và phát triển miền núi Đắc Lắc sang cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh để tiếp tục điều tra. Dư luận hy vọng vụ việc không bị “chìm xuống” và câu hỏi hơn 1,843 tỷ đồng của Nhà nước đã “bay hơi” đi đâu, những tiêu cực khác có được phát hiện sẽ được giải đáp! Nhưng trước hết, hiện tại gần 600 công nhân của Công ty đang rất cần sự giúp đỡ để qua cơn bĩ cực này.
Minh Lại nói về cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế
Hiện nay, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế ở các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện theo Thông tư số 64/1999/TT-BTC ngày 7/6/1999 của Bộ tài chính về “Hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận sau thuế và quản thuế trong các nhà nước doanh nhân nhà nước”. Tuy đã có một số thay đổi theo hướng tạo điều kiện chủ động hơn cho doanh nhân nhà nước, nhưng cơ chế này còn những tồn tại cần tháo gỡ để tạo động lực cho doanh nhân nhà nước phát triển.
Trước hết thực trạng đáng lo ngại hiện nay là các doanh nhân nhà nước phần lớn có quy mô vốn quá nhỏ. Theo ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nhân nhà nước, tại thời điểm năm 2000, số doanh nhân nhà nước có mức vốn 5 tỷ đồng chiếm tới 65,45% số doanh nhân nhà nước có mức vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 20,89% tổng số doanh nhân nhà nước hiện có. Đáng quan tâm hơn là 30% số doanh nhân nhà nước do địa phương quản lý có số vốn dưới 1 tỷ đồng. Trong khi đó, quy mô vốn của một dự án liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam bình quân khoảng trên 12 triệu USD (150 tỷ đồng Việt Nam). Con số này cho thấy, với quy mô vốn quá nhỏ bé như hiện tại, khả năng cạnh tranh của các doanh nhân nhà nước ngay cả trong nước cũng đã khó, nói chi tới cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế. Mặt khác, phần lớn doanh nhân nhà nước ở nước ta được trang bị thiết bị từ nhiều nước khác nhau, lạc hậu so với thế giới từ 10/20 năm. Do hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp nên thời gian khấu hao tài sản cố định kéo dài, hậu quả là khả năng cạnh tranh thương trường cả trong và ngoài nước của sản phẩm doanh nhân nhà nước làm ra thấp. Để khắc phục tình trạng này, các doanh nhân nhà nước cần bổ sung thêm vốn đầu tư, một trong những nguồn vốn quan trọng chủ yếu là tích lũy nội bộ của doanh nghiệp. Hiện đại, các doanh nhân nhà nước phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thế xuất cao hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (32% so với 25 %), cộng với khoản nộp tiền sử dụng vốn ngân sách, do vậy tỉ lệ động viên thu nhập từ các doanh nhân nhà nước vào ngân sách nhà nước ở mức khá cao, Điều này đã làm hẹp khả năng tự tích lũy vốn của các doanh nhân nhà nước
Hà Trang -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *