Chè khoai mài – mật ong

Ca dao ta có một bài như một màn kịch. Anh chồng nọ có 2 vợ, đêm anh ta nằm giữa, vợ cả nằm giường trong, vợ lẻ nằm phòng ngoài. Nửa đêm chị vợ cả muốn chồng, bèn gạ gẫm: “Anh ơi… anh có thương em thì anh ngoảnh mặt vào trong rồi mai em đi chợ… em mua bún với lòng về anh sợi”. Cô vợ lẽ trách chẳng muốn chị “Một tháng đôi lần có cũng không”, bèn thỏ thẻ: “Anh ơi… anh có thương em thì anh ngoảnh mặt vào trong rồi mai em đi chợ… em mua mật với khoai mài về anh sợi”.

Chị vợ cả theo tôn ti là người nắm mọi thứ, từ thóc lúa, tiền nong cho đến cả… anh chồng, nên mới có tiền mà mua những thứ “cao cấp” (bún với lòng). Còn cô vợ bé… người “bị bóc lột” nên đương nhiên cô chỉ có cái nón rách… bình dân. Lớn lên lăn lóc với đời, nếm đủ mùi mặn nhạc chua cây… lần lên Hòa Bình, được ăn… mật với khoai mài, tôi mới giật mình, thấy cô vợ lẻ kia vẻ là người thâm thúy, hơn thế còn là người rất sành ăn. Cái món cô ta định dâng chồng, nghe bên ngoài rất bình dân, kỳ thực là một món ăn quý tộc. Hơn cả nữa còn là một vị thuốc rất bổ. Ấy là món chè khoai mài nấu mật ong.

Khoai mài “tức củ mài”, không xa lạ gì với dân miền núi. Những năm đói, có khi cả bản sống được nhờ củ mài. Có những củ mài to bằng bắp chân người lớn, dài hàng thước. Đông y gọi củ mài là hoài sơn. Hoài sơn tính lành, vị mát, là vị “đại tướng quân” trong việc bồi bổ cơ thể con người, làm phục hồi sức lực. Củ mài lấy về mài ra thành bột, hấp chín, phơi khô, mật ong cho qua vải lọc hết vụn và sáp, để lâu ngày, trông mới trong “mật ong cũng là một vị thuốc”. Muốn nấu chè, người ta đem mật ông rưới vào bột hoài sơn, nhào nhuyễn rồi cho vào nồi, đậy thật kín. Nồi ấy để trong một nồi khác chứa nước. Và cứ thế đun cấp thủy chừng một tiếng nữa, lấy ra để nguội mới ăn.

Chè khoai mài – mật ong ngọt thanh, mát lừ, Từng giọt cho qua miệng, cảm thấy như được uống nước cam lộ của Nam Hải Quan Âm. Ăn vào đến đâu, tạng phủ như thay đổi đến đấy. Ăn xong một bát chè thấy người lân lân sảng khoái vô cùng…

Hà Tiên thập vịnh

  1. Kim Dự Lan Đào “Hòn đảo chắn sóng”.
  2. Thạch Động Thôn Vân “Núi Thạch Động nuốt mây”
  3. Châu Nham Lạc Lộ “Cò đậu núi Đá Dựng”.
  4. Đông Hồ Ấn Nguyệt “Trăng in mặt nước Đông Hồ”.
  5. Lộc Tri Thôn Cư “Thôn xóm Mũi Nai”.
  6. Lư Khê Ngư Bạc “Buông câu trên Rạch Vược”.
  7. Nam Phố Trừng Ba “Sóng vỗ ở xóm Bãi Ớt”.
  8. Bình Sơn Điệp Thúy “Rặng núi Bình Sơn trùng điệp”.
  9. Tiêu Tự Thần Chung “Tiếng chuông sớm chùa Tiêu Tự”.
  10. Giang Thành Dạ Cổ “Tiếng trống canh đêm ở Giang Thành”.

Trần Ninh Thụy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1998

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *