Cần những giải pháp toàn diện – Phần 1

Năm 2000, cả nước đã xuất khẩu 31.468 lao động và chuyên gia đi làm việc tại nước ngoài, bằng 144,3% so với năm 1999. Đây là một con số đáng khích lệ, vì cho tới năm 1995, xuất khẩu chỉ mới đạt mức 10.050 lao động. Được biết, mỗi năm, so ngoại tệ mà lao động Việt Nam chuyển về nước đã vượt qua con số 1 tỷ USD ! Năm nay, chỉ tiêu chính phủ đề ra là xuất khẩu được 50.000 lao động (chủ yếu là các ngành may, xây dựng, điện…). Liệu chỉ tiêu trên có khả thi, khi công tác xuất khẩu lao động của nước ta khá nhiều vấn đề cần được khắc phục
Nâng cao chất lượng “hàng hóa” – một yêu cầu tiên quyết.
Khi nói đến chất lượng lao động xuất khẩu, ngoài yếu tố tay nghề, khả năng tác nghiệp, còn phải xét đến các vấn đề khác như ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu biết xã hội, ý thức tôn trọng pháp luật, phong tục tập quán cũng như các quy định quốc tế. Tuy nhiên, do công tác đào tạo và chuẩn bị nguồn lao động còn nhiều hạn chế nên chất lượng lao động Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với các nước xuất khẩu lao động truyền thống như: Phillipine, Bangladest, Indonesia, Trung Quốc… lao động của ta phần lớn từ khu vực nông thôn nên rất kém về ngoại ngữ, tay nghề và nhận thức về quan hệ chủ thợ thường rất “lờ mờ”.
Trong khi đó nhiều doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động còn đơn thuần là kinh doanh, không chú ý đến công tác đào tạo nguồn và giáo dục, định hướng cho lao động trước khi đi. Do vậy, nhiều lao động ra nước ngoài đã không chấp hành pháp luật của Việt Nam và các nước sở tại, một số còn đơn phá vỡ hợp đồng, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và cả hai phía.
Cũng do thiếu ý thức, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộng đồng, một số bộ phận lao động còn bỏ trốn và vi phạm pháp luật của nước tiếp nhận lao động, Tại thị trường Nhật Bản, số lao động Việt Nam bỏ trốn chiếm 14,6% trong khi con số này của lao động Trung Quốc chỉ có 0,9%. Hiện nay thị trường lao động thế giới và khu vực ngày càng thu hẹp, cạnh tranh ác nước xuất khẩu lao động trở nên gay gắt hơn, yêu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài vào một số thị trường ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng cũng như ý thức kỷ luật. Việt Nam, mặc ù đã tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động hơn 20 năm, nhưng so với các nước xuất khẩu lao động truyền thống thì vẫn còn yếu thế hơn. Điểm mạnh của lao động Việt Nam là cần cù, chăm chỉ, giá cả phải chăng. Tuy nhiên, chúng ta cũng không dễ dàng khi các nước có nhu cầu và kinh nghiệm xuất khẩu lao động của mình, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Do đó, lợi thế về giá nhân công của Việt Nam đang mất dần. trên thế giới, ở nhiều đại bàn đã hình thành hệ thống hợp tác và phân bố lao động giữa các nước trong khu vực, ví dụ như các nước EU, các nước thuộc khối hợp tác kinh tế Châu Phi, các nước khu vực Bắc Mỹ và Caribê. Thậm chí, ngay cả Đông Nam Á, các nước như: Malaysia, Singapre, Bruney cũng chỉ nhận lao động từ các nước xuất khẩu lao động truyền thống như: Phillipine, Indonesia, Ấn Độ. Cũng chính vì lý do nói trên, việc mở rộng thị trường lao động ngoài nước đối với lao động Việt Nam hiện nay càng trở nên khó khăn. Trong khi đó, chúng ta chưa đầu như nghiên cứu, khai thác các thị trường tiềm năng mà chỉ tập trung vào một vài thị trường có sẵn như: Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, LiBi…
Quốc Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *