Chùa Trầm khu du lịch hấp dẫn

Danh thắng chùa Trầm nằm ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ (Hà Tây) có hệ thống đình chùa cổ đa dạng, phong phú. Mỗi đình, chùa, đền, miếu trong khu vực đều có thể tìm thấy những dấu tích hưng thịnh của các triều đại khác nhau: Núi Vô Vi là nơi một vị tướng nhà Định đã về làm chùa Phúc Trù Tự ở ẩn; đến đời Trần lại được xây thành Trai Linh Tự. Núi Bút, núi Cung, Quan m viện là những nơi ghi lại một thời vàng son của vua Lê, chúa Trịnh. Không những vậy, chùa Trầm còn là di tích cách mạng quan trọng, nơi Hồ Chủ tịch đã về làm việc trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây cũng là trụ sở mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần chỉ huy đánh máy bay của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc.
Có thể nói rằng, quần thể di tích này là nơi kết tinh, hòa quyện giữa non nước thiên nhiên cùng những trang sử hào hùng của dân tộc. Xung quanh khu vực núi Trầm còn có nhiều di tích quý: núi Hỏa Tinh, nhà thờ Đại Ơn, chùa Trăm Gian, chùa Ninh Sơn… tạo thành quần thể di tích phong phú đa dạng… Chính vì thế, ngay từ năm 1962, khu di tích chùa Trầm đã được Nhà nước xếp hạng.
Tiềm năng như vậy nhưng những năm qua, lượng khách đến chùa Trầm vẫn còn khiêm tốn. Năm 1994 chỉ có khoảng 18.000 lượt người, năm 1999: 25.000 lượt. Năm 2000 có 120.000 lượt. Con số này chưa xứng với tiềm năng thực tế. Nguyên nhân chính là do chưa có sự đầu tư thích đáng, thiếu quy hoạch cụ thể làm cơ sở cho các dự án để khai thác tiềm năng này. Các dịch vụ phục vụ du khách: nhà hàng ăn uống, nhà nghỉ, bãi đỗ xe, cửa hàng bán đồ lưu niệm… gần như chưa có gì; các tuyến đường giao thông từ quốc lộ 6 dẫn vào danh thắng này chật hẹp, khó đi…
Trăn trở trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây đã có Quyết định 922/QĐ/UB duyệt quy hoạch tổng thể khu du lịch chùa Trầm huyện Chương Mỹ đến năm 2010, nhằm từng bước đưa nơi đây thành một điểm du lịch hấp dẫn du khách. Ông Bùi Anh Tỉnh- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ cho biết, số vốn đầu tư trước mắt cho khu danh thắng này là 21,55 tỷ đồng trên diện tích 50 ha. Trong đó đầu tư vào giao thông 6 tỷ đồng, xây dựng 30 nhà nghỉ theo kiểu cung đình với số tiền 1,2 tỷ đồng, hệ thống điện 1 tỷ đồng, các công trình vui chơi thể thao 3,9 tỷ đồng. Dự án còn dành 650 triệu chi cho việc xử lý rác thải, quy hoạch trồng cây xanh, vườn cây sinh vật cảnh, đồng thời, đầu tư quy hoạch lại đường thủy xung quanh chùa Trầm phục vụ du khách. Với việc thực hiện dự án này, đến năm 2005, khu du lịch chùa Trầm sẽ có 100.000 lượt khách/năm với doanh số 3 tỷ đồng và đến năm 2010, con số này sẽ là 12,5 tỷ đồng. Từ năm 2005 lãi ròng bình quân sẽ là 1,8 tỷ đồng trở lên.
Bằng việc kêu gọi nhiều nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây và Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ sẽ trả lại cho khu di tích chùa Trầm vị trí văn hóa – lịch sử đích thực của nó, giúp du khách tìm hiểu đầy đủ hơn về những giai đoạn khác nhau trong lịch sử của một vùng đất gắn liền với từng chặng đường đi của dân tộc. Đây cũng sẽ là cơ hội mở rộng giao lưu văn hóa du lịch của Hà Tây với cả nước và quốc tế.
Đà Nẵng đầu tư 170 tỷ đồng cho du lịch
Đà Nẵng đã đầu tư gần 170 tỷ đồng vào các khu, điểm du lịch để tiếp tục thu hút khách du lịch quốc tế và trong nước.
Dự án công viên nước là một trong 5 công trình trọng điểm của thành phố năm 2001 đang được khẩn trương thi công với vốn đầu tư khoảng 50 tỷ đồng, dự kiến cuối năm 2001 sẽ hoàn thành.
Khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ đã triển khai thi công một số hạng mục công trình cầu treo và hệ thống chống sét, thiết lập điểm dừng xe tại km9… với vốn đầu tư khoảng 10 tỷ đồng.
Công ty Du lịch Non Nước liên doanh với Tổng Công ty Bến Thành (thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành nâng cấp và xây dựng khu du lịch Non Nước thành khu du lịch đạt tiêu chuẩn 4 sao với tổng vốn đầu tư 108 tỷ đồng. Tại đây sẽ khôi phục lại các biệt thự cũ, xây dựng các khu nghỉ ngơi, nhất là các dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao thành nơi tham quan du lịch sinh thái đặc sắc.
Di tích Đoan Môn mở cửa đón du khách
Công trình trùng tu, tôn tạo di tích Đoan Môn thuộc thành cổ Hà Nội đã hoàn thành và chính thức mở cửa đón khách du lịch. Đây là di tích cuối cùng trong số 3 di tích của Thành cổ Hà Nội được bàn giao cho ngành văn hóa trong đợt đầu tiên (cùng với Bắc Môn và Hậu Lâu). Đoan Môn hay Ngũ Môn Lầu là cửa Tây của Thành cổ thời Nguyễn, trên diện tích 3.900 mét vuông, được xây dựng tôn tạo hơn 1 năm nay. Kinh phí cho công trình này là 4 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2001 đến 2005, sẽ tiếp tục tôn tạo công trình mới phát hiện đó là con đường thần đạo xuất phát từ vòm chính giữa Đoan Môn vào điện Kính Thiên.
N.L – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Đến quyết toán khống – Phần 2

Quy mô vốn nhỏ, không được cấp thêm, khả năng tự tích lũy hạn hẹp, các doanh nhân nhà nước khó có thể thoát khỏi vòng luẩn quẫn tồn tại bấy lâu nay: vốn ít – công nghệ sản xuất lạc hậu- sức cạnh tranh yếu- hiệu quả thấp- tích lũy thấp…
Thứ hai, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thể hiện hành chưa gắn chặt quyền lợi của doanh nhân nhà nước và tập thể người lao động trong doanh nghiệp với kết quả kinh doanh của 9 doanh nghiệp. Với cơ chế hiện hành và nếu có lợi nhuận doanh nghiệp chỉ có thể có nguồn để trích lập các quỹ không chia (quy dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất làm việc…) sau khi đã nộp đủ tiền thu sử dụng vốn ngân sách và chi đủ một vài nội dung khác… nếu vẫn còn. Người lao động chỉ được nhận thu nhập bổ sung từ quỹ khen thưởng và phúc lợi của doanh nghiệp nếu phần lợi nhuận còn lại sau khi đã chi các nội dung trên và đã chia lãi cổ phần (trường hợp doanh nhân nhà nước phát hành cổ phiếu) vẫn còn dư. Điều này ít có tác dụng khuyến khích vật chất đối với người lao động trong doanh nghiệp phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bởi lợi ích mà họ được hưởng không gắn bó chặt chẽ với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không ít doanh nhân nhà nước cố tình hoạch toán không trung thực, làm sai lệch kết quả kinh doanh thực tế “lãi không thật, lỗ không thật” để tránh hoặc giảm bớt nghĩa vụ đối ngân sách, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, bản chất nguồn thu ngân sách nhà nước ở nước ta là thu từ các hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động của các doanh nhân nhà nước đóng vai trò quan trọng.
Do vậy, việc xây dựng cơ chế chính sách thu của nhà nước từ các doanh nhân nhà nước phải quán triệt quan điểm bồi dưỡng, tạo nguồn thu lau dài cho ngân sách nhà nước cơ chế phân phối lợi nhuận sau thể hiện hành ở các doanh nhân nhà nước hầu như mới chỉ giải quyết nguồn thu hiện tại cho ngân sách mà ít tính đến thực trạng tài chính nguy cơ tục hậu và thất bại trong cạnh tranh của các doanh nhân nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn tài chính của các doanh nhân nhà nước rất hạn hẹp; khả năng tạo vốn của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; điều kiện bao cấp về vốn không còn được như trước thì việc mở ra cơ hội để các doanh nghiệp thực hiện tích lũy vốn từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình, đổi mới kĩ thuật công nghệ để vươn lên là yêu cầu bức xúc cần được các nhà hoạch định cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp giải quyết tháo gỡ. Việc bảo toàn vốn của nhà nước đầu tư vào các doanh nhân nhà nước, cũng như mức độ ổn định và tăng nguồn thu một cách vững chắc cho ngân sách nhà nước gắn liền với sự tồn tại, phát triển và khả năng cạnh tranh của doanh nhân nhà nước trong tương lai.
Thứ tư, theo cơ chế hiện hành, lợi ích của nhà nước và lợi ích của các cổ đông khác (trường hợp doanh nhân nhà nước có phát hành cổ phiếu) với tư cách là đồng sở hữu doanh nghiệp đã không được thực sự bình đẳng. Việc nhà nước được lĩnh “cổ tức” dưới dạng tiền thu sử dụng vốn ngân sách diễn ra khi doanh nghiệp nhà nước chưa bù đắp hết các khoản chi phí sản xuất kinh doanh thực tế đã bỏ ra trong kì là không phù hợp với các nguyên tắc chung trong việc phân chia lợi tức cổ phần của doanh nghiệp cổ phần. Trong trường hợp doanh nghiệp nhân dân có thực hiện hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp khác trên cơ sở hợp đồng thì phần lãi (nếu có) mà các bên tham gia với tư cách cùng góp vốn cũng phải được nhận cùng lúc chứ không tách rời như cơ chế tài chính hiện hành…
Có thể nói: cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế hiện hành chưa tại điều kiện cho doanh nhân nhà nước có khả năng tích lũy vốn, đáp ứng nhu cầu đổi mới kĩ thuật công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh; chưa tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước phát triển; chưa đứng trên quan điểm nuôi dưỡng, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước; đồng thời cũng chưa phù hợp với vị thế chủ sở hữu doanh nghiệp của nhà nước.
Hà Trang – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Đến quyết toán khống – Phần 1

Có thể nói Công ty không từ một thương vụ nào để đục khoét tiền của Nhà nước. Tiêu thụ 601.360 kg muối iot tại trung tâm các huyện nhưng lại quyết toán là tiêu thụ tại…xã (hưởng trợ cước vận chuyển hơn 105 triệu đồng)!. Thanh toán hơn 135 triệu đồng tiền vận chuyển 1.524.534 kg muối cho 7 cán bộ thuộc Công ty sai quy định của chính Công ty. Qua kiểm tra cho thấy 2/7 người thông đồng với kế toán sửa chữa, lập chứng từ khống làm ô 15,8 triệu đồng. Trong năm 1998, Công ty đã nhập kho sản xuất và tiêu thụ 497.980 kg muối xay. Sang năm 1999, Công ty lại dùng lượng muối vô hình này quyết toán khống hơn 76 triệu đồng trợ cước vận chuyển!…Cùng với nhiều thương vụ ma quái khác, Công ty đã quyết toán khống hơn 463 triệu đồng (Thanh tra tỉnh đã quyết định truy thu 327.356.970 đồng).
Như vậy trong hai năm 1998-1999, chỉ tính riêng việc thực hiện chính sách TGTC đối với hai mặt hàng muối, than đá, Công ty đã làm ngân sách Nhà nước thiệt hại hơn 1,843 tỷ đồng. Ông Cao Đức Khiêm – Chánh thanh tra tỉnh khẳng định: trách nhiệm chính thuộc về giám đốc Lê Văn Hoàng và kế toán trưởng Vũ Thị Thường. Ngoài ra, một số cá nhân thuộc Sở tài chính – Vật giá, Sở y tế tỉnh cũng chịu trách nhiệm liên tới. Thanh tra tỉnh kiến nghị với ủy ban nhân dân tỉnh tạm đình chỉ công tác ông Hoàng và bà Thường; chỉ đạo Sở thương mại – Du lịch kiểm điểm 2 phó giám đốc Công ty và các cá nhân liên quan đến sai phạm để xử lý nghiêm.
Theo chúng tôi được biết, mới đây Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc đã thống nhất đề nghị trên Thanh tra tỉnh và chuyển hồ sơ vụ cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, có biểu hiện tham ô tại Công ty Kinh doanh và phát triển miền núi Đắc Lắc sang cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh để tiếp tục điều tra. Dư luận hy vọng vụ việc không bị “chìm xuống” và câu hỏi hơn 1,843 tỷ đồng của Nhà nước đã “bay hơi” đi đâu, những tiêu cực khác có được phát hiện sẽ được giải đáp! Nhưng trước hết, hiện tại gần 600 công nhân của Công ty đang rất cần sự giúp đỡ để qua cơn bĩ cực này.
Minh Lại nói về cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế
Hiện nay, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế ở các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện theo Thông tư số 64/1999/TT-BTC ngày 7/6/1999 của Bộ tài chính về “Hướng dẫn chế độ phân phối lợi nhuận sau thuế và quản thuế trong các nhà nước doanh nhân nhà nước”. Tuy đã có một số thay đổi theo hướng tạo điều kiện chủ động hơn cho doanh nhân nhà nước, nhưng cơ chế này còn những tồn tại cần tháo gỡ để tạo động lực cho doanh nhân nhà nước phát triển.
Trước hết thực trạng đáng lo ngại hiện nay là các doanh nhân nhà nước phần lớn có quy mô vốn quá nhỏ. Theo ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nhân nhà nước, tại thời điểm năm 2000, số doanh nhân nhà nước có mức vốn 5 tỷ đồng chiếm tới 65,45% số doanh nhân nhà nước có mức vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 20,89% tổng số doanh nhân nhà nước hiện có. Đáng quan tâm hơn là 30% số doanh nhân nhà nước do địa phương quản lý có số vốn dưới 1 tỷ đồng. Trong khi đó, quy mô vốn của một dự án liên doanh với nước ngoài ở Việt Nam bình quân khoảng trên 12 triệu USD (150 tỷ đồng Việt Nam). Con số này cho thấy, với quy mô vốn quá nhỏ bé như hiện tại, khả năng cạnh tranh của các doanh nhân nhà nước ngay cả trong nước cũng đã khó, nói chi tới cạnh tranh ở tầm khu vực và quốc tế. Mặt khác, phần lớn doanh nhân nhà nước ở nước ta được trang bị thiết bị từ nhiều nước khác nhau, lạc hậu so với thế giới từ 10/20 năm. Do hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp nên thời gian khấu hao tài sản cố định kéo dài, hậu quả là khả năng cạnh tranh thương trường cả trong và ngoài nước của sản phẩm doanh nhân nhà nước làm ra thấp. Để khắc phục tình trạng này, các doanh nhân nhà nước cần bổ sung thêm vốn đầu tư, một trong những nguồn vốn quan trọng chủ yếu là tích lũy nội bộ của doanh nghiệp. Hiện đại, các doanh nhân nhà nước phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thế xuất cao hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (32% so với 25 %), cộng với khoản nộp tiền sử dụng vốn ngân sách, do vậy tỉ lệ động viên thu nhập từ các doanh nhân nhà nước vào ngân sách nhà nước ở mức khá cao, Điều này đã làm hẹp khả năng tự tích lũy vốn của các doanh nhân nhà nước
Hà Trang -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Mời dự lễ kỷ niệm

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và 12 năm ngày thành lập chuyên ngành Du lịch và Khách sạn. Ban Chủ nhiệm khoa Du lịch và Khách sạn trân trọng kính mời tất cả các cán bộ, giảng viên đã từng công tác và học tập tại Khoa về dự lễ kỷ niệm vào 8 h 30 ngày 28/ 10/ 2001 tại nhà văn hóa của trường.
Để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm, Ban Chủ nhiệm khoa kính mời Ban cán sự các lớp thuộc các khóa và các hệ đào tạo của khoa về dự buổi họp trù bị vào 8h30 ngày 07/ 10/ 2001 tại văn phòng khoa (Phòng 29; 30 Nhà 7).
Xin trân trọng được đón tiếp.
Thông báo này thay cho giấy mời.
Chủ nhiệm khoa
Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Đính.
Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn khảo sát tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát
Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn vừa về thăm và làm việc với một số cơ sở thuộc địa bàn miền núi Nghệ An, trong đó có khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Đây là khu rừng nguyên sinh nhiệt đới có “đẳng cấp” ở Việt Nam, đồng thời là khu du lịch sinh thái rất hấp dẫn.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát có 1.297 loài thực vật bậc cao, trong đó có 51 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thực vật Việt Nam và 62 loài có tên trong sách đỏ quốc tế.
Cuối năm 1995, ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có quyết định đầu tư xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Tháng 5 năm 1997, sau hơn 1 năm hoàn tất các thủ tục, dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (do Liên hiệp Châu u tài trợ với tổng nguồn vốn 5 triệu 557 ngàn Ecu) đi vào hoạt động. Dự án này sẽ kết thúc giai đoạn 1 vào năm 2005.
Trên cơ sở trực tiếp khảo sát kết hợp nghe báo cáo của địa phương, Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn cho rằng ngoài giá trị to lớn về khoa học, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (sau này sẽ là vườn quốc gia) có đầy đủ yếu tố trở thành khu du lịch sinh thái thuộc loại có đẳng cấp ở Việt Nam. Bởi vậy, tại đây phải đồng thời làm tốt 2 nhiệm vụ: bảo tồn giá trị nguyên sinh và đầu tư hạ tầng để thu hút khách du lịch.
Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm việc tại Bắc Kạn
Vừa qua, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng tổng cục du lịch dẫn đầu đoàn trong công tác của tổng cục du lịch đã đến thăm và làm việc với tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
Lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn đã báo cáo với đoàn công tác những tiềm năng, định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Ông Mai Thế Dương, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh nêu rõ: “Tài nguyên du lịch chủ yếu của tỉnh là hệ thống sông ngoài dày đặc và hồ tự nhiên Ba Bể nổi tiếng. Nằm trong phạm vi rộng lớn Vườn quốc gia Ba Bể nơi có tính đa dạng sinh học cao. Bên cạnh là tiềm năng về rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú, các loại khoáng sản đa dạng. Bắc Kạn còn có nhiều khu du lịch đẹp nổi tiếng như: khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Ao Tiên, thác Đa Năng… và nhiều nơi di tích lịch sử cùng nhiều lễ hội được tổ chức hàng năm như hội Phủ Thông; hội Xuân Dương; lễ hội xuân Ba Bể… Từ những tiềm năng sẵn có đó lãnh đạo tỉnh chủ trương đầu tư trọng điểm khai thác các lợi thế đặc thù, đặc biệt với khu du lịch quốc gia Ba Bể như nâng cấp đường sá, xây dựng bến thuyền, xử lý môi trường, đưa hệ thống nước sạch, điện phục vụ du khách.
Sau khi làm việc với lãnh đạo tỉnh, đồng chí Võ Thị Thắng đã đi khảo sát thực tế tại hồ Ba Bể đường lên thác Đa Năng… là những nơi tỉnh đề nghị Tổng cục Du lịch hỗ trợ vốn đầu tư trong ngân sách năm 2002 để nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch.
Tiếp đó, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã tham gia đoàn công tác của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu làm việc tại huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang).
Ngành du lịch tổ chức học tập Nghị Quyết Đại hội Đảng XI
Trong 2 ngày 3 và 4/ 10/ 2001 tại Hà Nội, Đảng bộ cơ quan Tổng cục du lịch đã tổ chức lớp học cho toàn thể đảng viên về Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và quán triệt Chương trình hành động của ngành. Đồng chí Võ Thị Thắng Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự, Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch đã đến dự và phát biểu khai mạc lớp học còn được nghe toàn bộ Chương trình hành động của ngành được xây dựng theo yêu cầu của nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX và định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001 – 2010. Trong đó: nêu rõ các chỉ tiêu kinh tế của ngành, định hướng phát triển của vùng, liên quan tới nhiều lĩnh vực tuyên truyền quảng bá du lịch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng các tuyến điểm du lịch, tăng cường hội nhập đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn…
Bá Tân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 40 (205) – Năm 2001

Được và chưa được

Tàu Thăng Long 1000 thế hệ 2 đã khánh thành và đi vào hoạt động đã được mấy tháng với đầy đủ tiện nghi, khang trang, lịch sự và gây được nhiều ấn tượng với du khách. Phải nói rằng thời kỳ mới khai trương, tàu luôn đông khách, nhưng sau một thời gian hoạt động thì khả năng khai thác trọng tuyến du lịch vành đai Hà Nội lại có chiều hướng giảm dần. Ấn tượng ban đầu của tôi có lẽ là một nhà chờ thật khang trang lịch sự với những dãy ghế được đóng theo kiểu ghế tràng kỷ thủa xưa, được xếp từng dãy cho du khách ngồi trong lúc chờ tàu và màn hình phẳng Sony 21 inch được lắp tại hai góc nhà chờ. Hơn nữa phòng máy lạnh làm cho du khách bớt đi vẻ lo lắng, sốt ruột trong lúc chờ tàu.
Lúc lên tàu lại có cảm giác dễ chịu khác không thua kém ở nhà chờ. Khi con tàu chuyển bán thì toàn bộ hệ thống máy lạnh trên tàu được bật và sau đó là lời của cô phát thanh viên trên tàu giới thiệu về nguồn gốc ra đời của đất Thăng Long, về những nhu cầu của khách du lịch đã dẫn đến sự ra đời của tuyến du lịch Thăng Long Hà Nội 1000 này.
Tàu du lịch có 2 tầng, tầng 1 có 54 ghế và tầng 2 có 44 ghế, được thiết kế rất đẹp và thuận tiện cho mọi người lên xuống… Đi tàu du lịch rất vui. Có lẽ các em thiếu niên, nhi đồng là vui hơn hết. Đây là dịp đi chơi bổ ích và đầy ấn tượng mà các bậc phụ huynh không sợ con em mình phải bị cảm nắng, nóng. Trên tuyến hành trình, các em có thể ngắm được cảnh thiên nhiên, sông nước, ao, hồ, ruộng lúa và các chú trâu, bò đang thong thả gặm cỏ hoặc đang miệt mài cùng các bác nông dân cày, bừa trên những thửa ruộng ngoại ô thành phố mà có lẽ không ít em từ nhỏ đến giờ mới chỉ được xem qua ti vi, trên những trang sách hoặc qua từng câu chuyện kể của các ông bà, thầy cô giáo.
Tiếc thay, trên tàu tiếng thuyết minh quá nhỏ, việc giới thiệu bằng tiếng Anh cũng chưa đủ tạo cảm hứng cho du khách nước ngoài. Đáng buồn là tại các ga tàu dừng đều rất nghèo nàn về sản phẩm du lịch, ngay đến một quầy hàng lưu niệm cũng không thấy. Đó là chưa nói các nhà thiết kế tour chưa khai thác làng nghề để du khách có thể hiểu thêm về sản phẩm truyền thống và sự tài khéo của các nghệ nhân.
Triển lãm “Nghĩa tình đồng đội”
Tại Viện bảo tàng quân đội (Hà Nội) vừa diễn ra lễ khai mạc, triển lãm “Nghĩa tình đồng đội”. Triển lãm bao gồm 500 tài liệu hiện vật sắp xếp trong 150 mét vuông theo 5 chủ đề như “Đảng, Nhà nước, Bác Hồ và nhân dân đối với sự hy sinh cao đẹp của các Liệt sĩ”; “Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác tìm kiếm, cất bốc quy tập mộ Liệt sĩ”… Triển lãm sẽ kéo dài từ 24/7/2001 đến 24/9/2001.
“Sôi động ngày hè”
Đó là chương trình mà Câu lạc bộ Hà Nội – đơn vị liên doanh giữa ECOL International và Công ty khai thác Hồ Tây sẽ tổ chức vào ngày 28/7/2001. “Sôi động ngày hè” diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn và vui nhộn dành cho các em nhỏ và phụ huynh. Các tiết mục múa hát giải văn nghệ đã đạt nhiều giải thưởng, chương trình tập làm ca sĩ nổi tiếng, các trò chơi thú lý thú với nhiều giải thưởng hấp dẫn. Không những thế, tại đây còn có một thực đơn đặc biệt do chính các đầu bếp hàng đầu của Câu lạc bộ chuẩn bị cho các em nhỏ và du khách đến tham dự.
Hội nghị phòng chống ma túy Việt Nam – Lào
Tại Đà Nẵng, Bộ Công an (Việt Nam) và Bộ Nội vụ (Lào) vừa tổ chức Hội nghị phòng chống mya túy giữa Việt Nam và Lào lần thứ 3. Tại Hội nghị, Thiếu tướng Lê Thế Tiệm – Thứ trưởng Bộ Công an cho biết: “Từ đầu năm 2000 đến nay, công an các tỉnh biên giới Việt Nam – Lào đã triệt phá 1.886 vụ với 2.720 người có liên quan đến ma túy trong khu vực biên giới, thu hơn 40 kg heroin, 445kg thuốc phiện”. Nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa, Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Lào sẽ sớm cử sĩ quan liên lạc phòng chống ma túy hai nước; sử dụng văn phòng Interpol hai nước, phối hợp giải quyết các vụ án ma túy liên quan đến công dân, địa bàn hai nước, đặc biệt là khu vực biên giới. Theo thỏa thuận trong cuộc gặp gỡ giữa 3 đoàn đại biểu Việt Nam – Lào – Campuchia tại Phnôm Pênh cuối tháng 6/2001, cơ quan công an của ba nước sẽ luân phiên tổ chức hội nghị thường niên về hợp tác phòng chống ma túy thay cho các cuộc họp song phương như hiện nay.
Nguyễn Công Hoan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(195)2001

Ngọt ngào những ca khúc

Nhạc sĩ Trần Hoàn Ngọt ngào những ca khúc.
Sinh ra ở mảnh đất miền Trung sau nghĩa, nặng tình lại được học ở Huế nhiều năm, rồi lên đường tham gia kháng chiến… Phải chăng “chất Huế”, chất lãng mạn của người lính tiềm ẩn, trở thành dòng sữa nuôi tâm hồn để nhạc sĩ Trần Hoàn luôn cho ra đời những ca khúc mang âm hưởng trữ tình, ngọt ngào và sâu lắng…
Tính đến nay ông đã sáng tác một ngàn ca khúc, mỗi bài hát ra đời đánh dấu một cột mốc của lịch sử Việt Nam. Từ những sáng tác đầu tiên khi ngồi trên ghế phổ thông như: Học sinh vui tươi, hồn nước… còn non nớt cho đến một Sơn nữ ca, lời người ra đi, Lời ru trên nương, Giữa mạc Tử khoa nghe câu hò Nghễ Tĩnh, Bến Nhà Rồng, Lời Bác dặn trước lúc đi xa… đã thực sự thể hiện “độ chín” trong cảm xúc, trong nghệ thuật âm nhạc và định hình nên một phong cách rất riêng của Trần Hoàn.
Có lẽ Trần Hoàn là một trong những nhạc sĩ viết về Bác Hồ Kính yêu hay và đầy xúc động nhất. Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Bến Nhà Rồng… luôn làm rung động trái tim người nghe bằng những âm hưởng du dương, thiết tha và sâu lắng.
Gặp nhạc sĩ Trần Hoàn trên đấy Huế, chúng tôi lại có dịp được nghe ông tâm sự, nói về những ca khúc của mình với những tình cảm lắng sâu, đằm thắm và thiết tha.
Thưa nhạc sĩ, “Sơn nữ ca” ra đời trong kháng chiến chống thực dân Pháp, là ca khúc thấm đượm chất chữ tình, lãng mạn, luôn chiếm được tình cảm đối với bạn trẻ. Nhạc sĩ có thể cho biết vài nét về cảm hứng sáng tác của ca khúc này?
Có nhiều người hỏi tôi cô Sơn nữ trong ca khúc đó là ai và bây giờ ở đâu. Quả thật, không phải một cô Sơn nữ cụ thể nào cả, mà đó là Sơn nữ chung thôi. Lúc này tôi đang là một chiến sĩ rất là trẻ, đi qua vùng cao Tuyên Hóa, dừng chân và giao lưu với các bạn học sinh ở đây. Tôi hát tặng một lúc 18 bài. Các nữ sinh trung học rất mến chúng tôi. Trước lúc chia tay, tôi sáng tác ca khúc này để tặng và cũng là dặn, lời tâm sự quyết tâm kháng chiến. Một ca khúc khác cũng ra đời trong kháng chiến chống thực dân Pháp mà tôi rất tâm đắc nữa là “Lời người ra đi”. Đây là ca khúc tôi viết tặng vợ tôi tại Nghệ An năm 1951 sau một tuần lễ cưới nhau và tôi phải lên liên khu 3 công tác. Nói là tặng “người” cho “người”, nhưng ở đây chính là lời nhắn nhủ, dặn dò người ở lại hậu phương, dặn chính mình và động viên mọi người quyết tâm và tin tưởng vào cuộc kháng chiến, vào thắng lợi cuối cùng: “Dù xa xôi em nhớ lời, rằng muốn có một ngày về thì chiến đấu đừng sờn lòng, đừng nề gian khổ em ơi…”.
Thưa nhạc sĩ, hầu hết các ca khúc của nhạc sĩ sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau năm 1975 thấm đượm chất dân ca miền Trung: ngọt ngào, lắng sâu…. Điều gì tạo nên chất giọng rất riêng ấy?
Đúng thế, hầu hết ca khúc của tôi sáng tác đều trầm buồn, sâu lắng. Có lẽ “chất Huế”, chất dân ca miền Trung thấm sâu trong tôi. Đặc biệt, trong giai đoạn chống Mỹ, tôi trở về quê hương hoạt động ở Bình Trị Thiên. Đó là cơ hội giúp tôi thăng hoa trong quá trình công tác. Có nhiều người nhận xét: Ca khúc Trần Hoàn bây giờ đúng với giọng điệu của quê hương miền Trung… bài hát ấn tượng nhất của tôi lúc này là “Lời ru trên nương”… Tôi và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sống với nhau nhiều năm ở chiến trường Thừa Thiên Huế. Năm 1971, Nguyễn Khoa Điềm sáng tác bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”. Từ thơ rất hay và tôi dã phổ nhạc. Nhạc và lời điều phảng phất âm hưởng miền núi, rất thật và phẩm chất, tình cảm của người mẹ Pacô trong kháng chiến chống Mỹ. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một trong những ca khúc mẫu mực và được phối hợp giữa thơ và nhạc.
Sau năm 1975, dù bận rộn công tác nhưng nhạc sĩ vẫn say mê sáng tác. Những ca khúc nào nhạc sĩ tâm đắc nhất?
Trong tôi lúc nào cũng dâng trào những cảm xúc về Bác, về những đồng chí đã từng chiến đấu với tôi. Bài hát mùa xuân nho nhỏ (phổ thơ Thanh Hải) với giọng điệu trong sáng, nhẹ nhàng và thể hiện tình cảm nghĩa sâu của người đã cùng hoạt động gần 10 năm trời. Hình ảnh Bác Hồ mãi mãi khắc sâu trong tim tôi. Tôi viết về Bác trong số đó phải kể đến “Lời Bác dặn trước lúc đi xa”. Bài hát được sáng tác trong lúc tôi đang nằm bệnh viện ở Hà Nội nghe đồng chí Vũ Kỳ kể lại chuyện Bác muốn nghe một câu hò Huế, câu hát dặm quê mình trước lúc nhắm mắt. Tôi day dứt và xúc động vô cùng. Mong muốn của Bác trước lúc đi xa được thể hiện trong ca khúc của tôi như lời nhắn gửi với chúng tôi hãy giữ gìn , đừng bao giờ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc qua những làng điệu dân ca của quê hương, xứ sở.
Bước qua tuổi 73, bận tộn với chức vụ Bộ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin, nay là Phó trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương…. Nhưng cảm hứng sáng tác của Trần Hoàn vẫn dồi dào, sung sức… Chúng ta hãy chờ đợi những ca khúc vẫn mang âm hưởng ngọt ngào, lắng sâu của nhạc sĩ Trần Hoàn.
Trần Văn Toản – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Hàng không và du lịch, sự cộng hưởng bền chặt – Phần 2

Trong năm 2000, ngành du lịch Việt Nam đón 2 triệu 140 nghìn khách quốc tế đến Việt Nam, dự tính trong năm nay sẽ là 2.500.000 và có khoảng 12,9 triệu du khách trong nước. Theo ước tính của Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2010 những con số tương đương sẽ là từ 6 đến 7 triệu du khách ngoại quốc và trên 25 triệu khách nội địa.
Theo Tổng cục Du lịch, lượng khách quốc tế vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó khách từ Mỹ và Bắc Mỹ tăng hai lần, khách Úc tăng trên 60%, khách Nhật tăng trên 40%, riêng đường bay Đông Dương của Việt Nam Airlines tăng 40%. Hiện khách trên các đường bay quốc tế tăng cao còn do, gần đây đã có nhiều người Việt Nam bắt đầu đi du lịch sang châu u, Trung Đông, Mỹ chứ không chỉ quanh quẩn các nước trong khu vực. Nếu việc xin visa vào các nước châu Âu, Mỹ không quá khó khăn thì số lượng người Việt Nam đi du lịch còn đông hơn hiện nay. Các ngành dịch vụ liên quan như nhà hàng, khách sạn lớn tại thành phố Hồ Chí Minh đều có công suất sử dụng phòng tăng cao như khách sạn Caravelle từ mấy tháng nay luôn hết phòng.
Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng và hấp dẫn du khách là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Du lịch và các cơ quan Nhà nước cải tiến hàng loạt biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch như: các thủ tục xuất, nhập cảnh, quá cảnh đối với người và hành lý của khách du lịch quốc tế. Người nước ngoài khi có thị thực nhập, xuất cảnh Việt Nam có quyền nhập, xuất cảnh bất cứ ở cửa khẩu quốc tế nào. Chính phủ đã bỏ thị thực nhập, xuất cảnh cho công dân Philippines và Thái Lan; công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam hợp lệ, khi nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam không cần thị thực.
Hợp tác để cùng phát triển
Thời gian qua 2 ngành này đã xác định được sự cần thiết hợp tác, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Để giới thiệu, quảng bá với du khách về các danh lam thắng cảnh của đất nước Việt Nam, đồng thời mở rộng sự hiểu biết, tạo sự tin cậy đối với Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam, năm 2000, Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chuyến giao lưu và khảo sát du lịch dành cho báo chí và các hãng lữ hành nước ngoài.
Mới đây, 3 ngành du lịch Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng và Quảng Ninh đã kết hợp với ngành hàng không tiếp thị, quảng bá hình ảnh du lịch địa phương trên các chuyến bay. Quan hệ ấy sẽ giúp hình ảnh của các địa phương tiếp cận hành khách hàng không từ trên máy bay. Đến tháng 9 năm nay, một chương trình hành động như vậy giữa 3 tỉnh với Tổng cục Du lịch và Vietnam Airlines cũng được tiến hành, khách đến đây chủ yếu để tham gia tour du lịch Hội An – Huế – Mỹ Sơn.
Vào tháng 4 vừa qua, ngành du lịch và hàng không lại phối hợp với nhau tổ chức Festival Việt Nam tại Tokyo (Nhật Bản). Đây là chương trình giới thiệu quảng bá về du lịch Việt Nam có quy mô lớn nhất từ trước đến nay với sự tái tạo lại những mô hình danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam như: Vịnh Hạ Long, Địa Đạo Củ Chi, các kiến trúc cổ Hà Nội, Hội An, Huế… Và cũng trong thời gian đó, Vietnam Airlines đã khai trương tuyến bay nối Việt Nam với hai thành phố của Nhật Bản là Tokyo, Osaka.
Không chỉ dừng lại ở đó, cứ vào tháng 10 hàng năm, ngành du lịch và hàng không lại phối hợp với nhau để quảng bá du lịch nước nhà với khách du lịch trong nước và quốc tế. Tháng 10/2000, Sở Du lịch Hà Nội – Vietnam Airlines và Công viên Hồ Tây phối hợp tổ chức chương trình liên hoan “Du lịch Hà Nội với Hà Nội 990 năm”. Còn năm nay chương trình sẽ có tên là “Hà Nội chào Thiên niên kỷ mới”.
Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Hàng không và du lịch, sự cộng hưởng bền chặt – Phần 1

“Việt Nam, điểm đến của Thiên niên kỷ mới”, lời quảng cáo mỗi tối trên” tưởng như là của ngành du lịch Việt Nam, nhưng đó lại là của Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines). Và thực sự, sự gắn kết giữa 2 ngành còn khá trẻ của Việt Nam đã được thể hiện, nhất là trong những năm gần đây.
Hàng không cất cánh nhờ du lịch
Theo Tổng công ty Hàng không Việt Nam, một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy ngành phát triển mạnh trong những năm gần đây chính là nhờ sự cởi mở về mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và nhất là sự phát triển của ngành du lịch nước nhà. Du lịch càng phát triển mạnh, nhu cầu về vận tải càng tăng, đường bay quốc tế và đến những vùng du lịch chủ yếu của Việt Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hà Nội… cũng tăng mạnh.
Trong thời gian gần đây Vietnam Airlines đã phải tăng chuyến, mở thêm một số tuyến bay mới. Điều này phụ thuộc vào nhu cầu khách hàng mà chủ yếu là do khách du lịch của một số nước trên thế giới đến Việt Nam tăng cao như: Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Pháp…
Khách du lịch nội địa thời gian qua thông qua đường hàng không cũng tăng cao. Với thực tiễn ấy, không chỉ các sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất được đầu tư, một loạt các sân bay trong cả nước mà hầu hết là các sân bay nằm trong vùng du lịch nổi tiếng được nâng cấp, đầu tư mở rộng để có thể đón các máy bay lớn thực hiện các đường bay quốc tế như: Phú Bài (Huế), Đà Nẵng, Liên Khương (Đà Lạt)… Không chỉ dừng lại ở việc phát triển thị trường đơn thuần, ngành hàng không trong những năm qua xúc tiến thương mại bằng việc đầu tư cho quảng bá về đất nước, con người Việt Nam tại các nước châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… Trong những năm qua, mỗi năm, ngành hàng không đầu tư khoảng 5 triệu USD để tự tạo thị trường vận tải cho mình và giúp ngành du lịch Việt Nam thêm hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế, trong đó 250.000USD cho chương trình thu hút khách Nhật Bản đến Việt Nam.
Du lịch, sự hấp dẫn không dừng ở thắng cảnh
Dịch vụ vận tải hàng không là một trong những điều kiện không thể thiếu để tạo ra sự hấp dẫn cho ngành du lịch Việt Nam.
Nhiều năm trước đây, ngành du lịch của ta phát triển một cách “èo uột”. Du lịch quốc tế thì hầu như dậm chân tại chỗ, còn du lịch trong nước chủ yếu phục vụ cho việc nghỉ mát vào 4 tháng hè của cán bộ, công nhân viên các công ty, xí nghiệp của Nhà nước. Du khách muốn đến một địa chỉ du lịch nào đó thì là cả một vấn đề bởi phương tiện dành cho du lịch chỉ có ô tô, tàu hỏa. Có khi du khách mất vài ngày đường để lưu lại khu du lịch một ngày hoặc vài giờ.
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, với sự phát triển của ngành hàng không, chỉ cần khoảng vài giờ bạn có thể bay từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Đà Nẵng, đến Đà Lạt và cũng có thể đến Xiêm Riệp, đến với Angkor Wat – khu du lịch nổi tiếng của Campuchia. Bằng sự hấp dẫn của danh lam, thắng cảnh Việt Nam và sự thuận tiện trong giao thông, hiện nay ngày càng có nhiều khách du lịch trong khu vực và quốc tế đến Việt Nam. Và, lượng khách quốc tế đến và đi từ Việt Nam đang giúp ngành hàng không tăng doanh thu.
Một quan chức của Công ty Du lịch Hà Nội cho rằng, quy luật của thị trường hàng không và du lịch bắt đầu thay đổi. Mọi năm vào khoảng tháng 4, tháng 5, tháng 9, tháng 10 được coi là mùa du lịch vắng khách, thì nay những tháng này vẫn đông khách và đôi khi hết chỗ.
Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Vì sao có lệnh đốt sách, chôn nho?

Đốt sách, chôn Nho là vụ án văn tự do Trần Thủy Hoàng gây ra được coi như độc nhất vô nhị trong lịch sử và không mấy người không biết tới. Thế nhưng, xưa nay rất nhiều người vẫn tưởng rằng đốt sách, chôn nho là một vụ án chung. Thực ra, đây là 2 vụ việc hoàn toàn khác nhau, xảy ra ở 2 thời điểm khác nhau.
Vụ đốt sách
Sau khi lên ngôi (năm 221 trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng thực thi chính sách đề cao võ lực, lại bắt dân nô dịch quanh năm lên tiếng kêu than nổi dậy. Cùng với sự bất mãn của người dân 6 nước bị Tần tiêu diệt, các thư sinh cũng đem Thi, Thư ra để bàn luận, phê phán pháp lệnh chính trị lúc ấy. Nhìn thấy mối nguy hại tiềm ẩn cho triều Tần từ đó, Thừa tướng Lý Tư đã bày mưu để Thủy Hoàng ban hành lệnh cấm mở trường tự học… Lệnh đốt sách được ban ra tưởng như ngẫu nhiên nhưng thực ra lại bắt nguồn từ tình hình khá phức tạp của xã hội.
Năm 213 (trước Công nguyên) Tần Thủy Hoàng mở yến hội ở cung Hàm Long. Các vị bác sĩ (là những người học rộng) đến chúc mừng vua Tần. Nhân dịp này, để bày tỏ lòng trung với Tần Thủy Hoàng, Bộc xạ Chu Thanh Thần đã hết lời ca ngợi công đức của Thủy Hoàng cũng như tán dương chế độ quận, huyện do nhà vua đặt ra. Thấy thế, học giả Thuần Vu Việt đã phản bác rằng ý kiến “Chưa hề có ai làm việc không theo cổ nhân mà có thể trường cửu được”. Ông cũng đưa ra chủ trương nên học theo nhà Thương – Chu mà thực hành chế độ nhân phong.
Ý kiến của Thuần Vu Việt được Thủy Hoàng mang ra cho các đại thần bàn định. Chẳng ngờ, Thừa tướng Lý Tư đã kịch liệt phản đối quan điểm của Thuần Vu Việt và cho rằng: “Ngày nay, kẻ sĩ không học theo Nay mà chỉ học theo Xưa, họ cho rằng đòi Nay là sai, mê hoặc đời”. Vì thế, Lý Tư bày tỏ quan điểm e ngại nước sẽ loạn nếu không cấm việc học tư và đề nghị nhà vua cho “tất cả sách sử không phải sử đời Tần đều đốt hết… Ai giữ Thi, Thư thì bị đem giết giữa chợ… Lệnh 30 ngày mà không đốt sách thì khắc vào mặt đầy đi phu để xây Trường Thành” (Sử ký – Tần Thủy Hoàng bản kỷ).
Lời tâu bày của Thừa tướng Lý Tư lại lọt tai Hoàng đế và lập tức được phê chuẩn, trở thành pháp lệnh trong toàn quốc – nguồn gốc của lệnh đốt sách với nội dung vô cùng nghiêm khắc: 2 người bàn nhau về kinh thư, thi thư sẽ bị chém đầu, ai trích dẫn việc đời xưa để phê bình chính trị đời nay bị giết toàn gia tộc; quan lại biết mà không khai coi như đồng phạm.
Thực ra, nguyên nhân sâu xa của sự “dị ứng” với Nho gia của Lý Tư là ông ta vừa lo lắng về đấu tranh chính trị, vừa lo về đấu tranh tư tưởng học thuật. Đáng lẽ, là học trò của Tuân Tử, ông ta phải tin theo học thuyết Nho gia.Đằng này, thấy triều Tần không trọng Nho gia mà đề cao hình pháp, Lý Tư lập tức theo học hình danh pháp luật. Trong vai trò Thừa tướng, ông ta nhìn thấy lực cản chân trong công danh của mình chính là Nho học nên muốn triệt phá Nho gia tận gốc rễ bằng việc đốt sách.
Chôn nho
Sự kiện chôn Nho lại bắt nguồn từ việc Tần Thủy Hoàng rất mê tín và thích đi tìm các thuật trường sinh bất tử. Năm 219 (trước Công nguyên) phương sĩ nước Tề là Từ Thị dâng thư nói rằng ngoài biển có 3 tòa thần tiên có người tiên cư trú và xin cho y dẫn theo người ra biển tìm tiên. Tần Thủy Hoàng vui vẻ đồng ý nhưng đoàn người đã không trở về. Bốn năm sau, Tần Thủy Hoàng lại sai Lư Sinh ra biển tìm tiên và sai một số người khác tìm thuốc trường sinh. Dĩ nhiên Lư Sinh không thể gặp tiên và bịa ra một chuyện thần thoại khác. Đến năm 212 (trước Công nguyên) Lư Sinh lại khuyên Tần Thủy Hoàng giữ bí mật nơi ở, đi ra ngoài phải cải trang… mới được thuốc bất tử. Tần Thủy Hoàng răm rắp tin lời cũng chẳng có thuốc tiên. Khi thấy bị Thủy Hoàng sắp biết sự thật, Lư Sinh và Hầu Sinh cùng bỏ trốn. Nghe tin những kẻ “tìm thuốc tiên” đã bỏ trốn sau khi đã chi phí rất lớn lại còn để lại những lời phỉ báng, Tần Thủy Hoàng nổi cơn lôi đình: “Trước đây, ta thu gom sách vở trong thiên hạ, lại tụ họp đông bọn kẻ sĩ phương thuật văn học với ý muốn nhờ chúng giúp ta tìm thuốc tiên… Bọn Lư Sinh được ta sủng ái nay lại phỉ báng nói xấu ta… Ta sai người tra hỏi các chư sinh, phát hiện ra có người đặt ra những yêu ngôn mê hoặc bách tính”. Rồi Tần Thủy Hoàng ra lệnh bắt giữ 400 Nho sinh liên lụy vào vụ này và đem chôn sống ở Hàm Dương.
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(181)2001

Năm loại hình quan trọng nhất ở nước Đức

Các loại hình du lịch ngày càng phong phú hơn vì nhu cầu, sở thích của con người vô cùng phong phú, có người thích hoạt động thể thao, bơi lội khi nghỉ, có người lại thích lang thang bảo tàng hết bảo tàng này đến triển lãm khác, có người lại thích ăn uống, hưởng thụ các đồ ăn thức uống đặc sản. Theo một công trình nghiên cứu gần đây nhất ở Đức, người du lịch Đức khi ở nước ngoài vẫn có xu hướng làm việc, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến công việc thường ngày của mình. Nhìn chung có 5 loại hình du lịch:
Du lịch văn hóa: đối tượng du lịch văn hóa là những người làm việc trí óc, thường ngoài 50 tuổi chiếm khoảng 10%. Trong khi đi du lịch họ thường đến các nhà hát, nghe giao hưởng, ba lê và thăm các viện bảo tàng, các công trình văn hóa. Họ ăn mặc lịch sự, xử sự đúng mực, ăn nói nhỏ nhẹ, ngay cả khi ngồi ăn trong các quán ăn, tiệm rượu. Khách du lịch văn hóa không quan tâm lăm đến thể dục, thể thao, quá lắm họ chỉ được dạo một cách thong thả. Bên cạnh việc đi tham quan các thành phố phần lớn khách du lịch văn hóa Đức thích tới các quốc gia nổi tiếng về các công trình văn hóa, điển hình như Ai Cập.
Đi dạo: đối tượng của các loại hình du lịch này là những người thuộc tầng lớp bình dân: cụ hữu trí, người độc thân goá bụa, ít quan tâm đến các vấn đề chính trị, chiếm khoảng 20%. Họ ngại tiếp xúc với người lạ hay địa điểm mới lạ, thích môi trường sống hài hòa, quen thuộc, ăn mặc giản dị. Họ thích không khí trong lành, thích làm những chuyến đi bộ trong rừng hoặc trên bãi biển. Các địa điểm thu hút các địa danh du lịch có tiếng ở Áo hoặc Italia.
Du lịch gia đình: đại diện phổ biến cho khách du lịch loại này là tầng lớp trung niên, 40 – 50 tuổi, công nhân viên chức, có vợ, con cả nhà cùng đi du lịch. Số này chiếm khoảng 20%. Họ thích ăn mặt cho phù hợp với nơi mình ở, thích mang theo xe đạp có thể làm những chuyến đi du ngoạn ở địa điểm du lịch của mình, thích ở những vùng hẻo lánh. Sẵn sàng tiếp xúc với dân bản xứ, tham gia các lễ hội và xử sự đúng mực.
Du lịch sáng tạo: đối tượng của loại hình du lịch này là những người từ 16- 40, là thợ thủ công, công nhân, nhân viên, không quan tâm đến chính trị, thích xem phim disco, thể thao, ăn mặc tềnh toàng, có thể ngủ ở bến tàu, bến xe, điều mà học quan tâm không phải là tiện nghi mà là sự sôi động. Số lượng khách du lịch bụi này chiếm khoảng 20%. Địa điểm thu hút họ là Tây Ban Nha và các quốc gia của vùng Ban Băng.
Biểu tượng của quốc gia Italia đã vững chắc trở lại.
Báo chí Italia đã đưa tin với hàng tít lớn: “Tháp pasi đã được bình phục” tuy sự bình phục này những khách du lịch người trần mắt thịt không thể nhận ra được. Tuy nhiên sau 11 năm điều trị ngọn tháp nghiêng nổi tiếng này nay có thể nay đã tai quan nạn khỏi. Tháp được dựng đứng trở lại khoảng 44 cm, và có thể đứng vững vàng trong 300 năm tới. Cả nước Italia thở phào nhẹ nhõm vì ngọn tháp cai 58 mét này đã bị đóng cửa năm 1990, không tiếp khách du do có nguy cơ bị đổ.
Phụ trách công trình trùng tu ông Mechele Jamiolkowski, chuyên gia gốc Ba Lan đã gặp không biết bao khó khăn trong 11 năm điều trị tháp Pasi, thậm chí có nhiều lúc người ta tưởng ông đang đứng trước một sự thất bại. Phương pháp cứu Tháp Pasi của ông tương đối đơn giản: Tạo lự đối trọng gồm một khối chì nặng 1.000 tấn ở chân tháp. Chính điều này đã có lúc làm công trình tháp Pasi chao đảo. Sau đó diễn ra ngày thứ 7 đen tối năm 1995: “la torre pen dent”. Tháp tiếp tục nghiêng thêm 1 mm, độ nghiên này vốn là độ nghiên bình quân hàng năm. Vì thế đã có lúc người ta phải dùng các cáp thép để chống đỡ và nhiều kẻ ác khẩu đã bêu riếu là tháp Pasi đeo dây đai quần!
Song các chuyên gia đã bất chấp mọi sự đàm tiếu. Họ tiếp tục bóc lớp đất ở mạn phía bắc, hút nước, bùn đồng thời bơm nitơ lỏng vào để gia cố từ đó tháp liên tục được kéo trở lại vị trí cũ. Chuyên gia Jamiolkowshi khẳng định: “Tháp Pasi sẽ đứng vững trong vòng 300 năm tới”.
Từ thiên tình sử đến cuộc đổi ngôi ngoạn mục
Rõ ràng, chuyện trừ gian trong, dẹp giặc ngoài, làm mạnh nước Việt, ra oai với Tống Triều khó có ai sanh nổi với vua Lê (Thăng Long Ký – Nguyễn Khắc Phục). Nhưng việc thu phục lòng người, để đức cho con cháu thì xem ra, Lê Hoàn chưa được đánh giá cao. Chính vì thế “Đại sử ký toàn thư” đã gay gắt: “Lấy lối ấy truyền lại đời sau, chính con mình lại bắt chước gian dâm quá độ, đến nỗi mất nước, há phải Đại Hành gây mối họa loạn ư…”. Cuốn “Đại Việt sử ký tiền biên” còn phê phán: “Lê Đại Hành là một ông vua mở ra cơ nghiệp mà làm việc ấy xem như cầm thú mọi rợ. Hơn nữa, miếu hiệu Đinh Tiên Hoàng là Đại thắng Minh Hoàng đế, thế mà Lê Đại Hành lại công nhận lấy hiệu vua cũ đặt tên cho vợ mình là không biết kiên nở quá khứ. Chép vào sử sách cho nghìn thu chê cười”.
Sau khi Lê Đại Hành mất, các con ông đánh nhau tranh giành ngôi báu. Rồi Lê Long Đĩnh con trai Dương Vân Nga và Lê Hoàng Việt để cướp ngôi. Nhưng cũng chỉ được 5 năm thì ngai vàng rơi vào tay họ Lý một cách nhẹ nhàng. Phải chăng đó là vòng định mệnh?
Trang Thu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001