Tề Bạch Thạch – người không phụ lòng những danh thắng

Tề Bạch Thạch tự thuần chi, họ tề. Ông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1863 tại làng cây hạnh, cạnh đầm tinh đẩu, huyện tương đàm, hồ nam, trung quốc. Đây là một vùng bán sơn địa, có núi tử vân, liên hoa, bạch thạch, có sông tương, đầm tinh đẩu, sơn thủy hữu tình, tài năng thiên phú đã hun đúc nơi ông một tâm hồn khoáng đạt, ưu nhã một bút lực có thần khí.
Người như tề bạch thạch không thể không nặng lòng với những mời gọi của cảnh đẹp trên khắp dặm dài đất nước nói riêng và cảnh đẹp nói chung. Tuy vậy, do nhà nghèo, lại sớm vướng bận thê nhi, mãi đến năm 40 tuổi ông mới có điều kiện du lịch gần khắp đất nước, tận mắt thưởng ngoạn những danh thắng, thâm nhập vào đời sống nhân dân. Đi đến đâu ông cũng sưu tập tài liệu, ghi chép, đặc biệt là vẽ tranh và làm thơ. Ai đã từng lưu tâm đến tranh của tề bạch thạch hẳn đã được ngắm những tác phẩm nổi tiếng của ông qua các chuyến đi như. Hoa Sơn, Lê Sơn, Thạch Môn, Hồ Động Đình, Quê Lâm, Hoàng Hà…càng đi xa, hành trang nghệ thuật của ông càng trĩu nặng – ông đã không phụ long những ưu ái của thiên nhiên, của cái đẹp. Điều đặc biệt thú vị là nhà danh họa này đã từng tới đất Việt qua con đường Đông Hưng – Móng Cái. Dấu chân ông cũng đã để lại dọc đường biên giới Việt Trung. Dấu ấn của những chuyến đi ấy, của cảnh sắc Việt Nam đã in đậm trong bức họa “khách qua trời lục” và bài thơ “nhớ Phương Nam”.
Sau những chuyến đi, đến 60 tuổi, Tề Bạch Thạch định cư ở Bắc Kinh. Ông mất ngày 16 tháng 9 năm 1957, hưởng thọ 94 tuổi. Trong cả cuộc đời cầm cọ của mình, ông đã chưa một lần dối đời, nghệ thuật của ông đã đạt đến những tiêu chí, chuẩn mực của quốc họa Trung Hoa truyền thống. Đó là “Sắc vị hương thanh, tứ giải chủ toàn”, nghĩa là tranh vẽ hiện hình sinh động trước màu sắc hình thù, mà như được hưởng thụ được mùi vị và cảm nhận cả âm thanh. Quả là ông đã không phụ lòng những danh thắng đi qua nhãn quan mình . Nặng tình lắm và tài năng mới có thể làm được như vậy.
Bích Nhung – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Những ngày nghỉ ở Nhật Bản

Nhật Bản là một quốc gia có số giờ làm việc nhiều nhất trong một năm vì vậy những ngày nghỉ có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội của người dân xứ này. Vào những ngày nghỉ, người Nhật có thể thả mình vào các cuộc vui chơi giải trí như là một biện pháp hữu hiệu nhất để thư giãn cho chính bản thân.
Trong những ngày nghỉ của mình, người Nhật thường tham gia các hoạt động thể thao dưới nước vào mùa hè và trượt tuyết vào mùa đông. Trong các môn thể thao dưới nước số người ưa thích lướt ván vào mùa đông với bộ quần áo chống lạnh. Bên cạnh đó cũng nhiều người thích chơi môn điều khiển thuyền buồm nhưng không phải ai cũng có thuyền buồm riêng, bởi ở Nhật Bản giá thuyền buồm cũng như công việc bảo quản rất cao nên việc sở hữu riêng một chiếc chỉ có ở những người lắm tiền. Quần vợt là trò chơi giải trí chủ yếu phù hợp với mọi lứa tuổi. Vào dịp cuối tuần có rất nhiều người chơi quần vợt tại các CLB, điểm du lịch… ! Ở Nhật Bản, việc chơi golf không phải là môn thể thao dành riêng cho người giàu có nữa mà giờ đây nó đang trở nên phổ biến hơn phục vụ cho mọi lứa tuổi rộng rãi từ thanh niên đến những người có tuổi. Theo ước tính, chơi golf có rất nhiều người tham gia, họ lập thành các nhóm khác nhau từ những người đồng nghiệp trong công ty đến những ông chủ giàu sụ… Ngoài ra môn bóng đá và bóng bầu dục cũng được ưa chuộng không kém, còn các môn võ thuật thì tiếp tục phát triển, các môn Kendo, Karate, Judo và Aikido dường như đã trở thành một phần trong đời sống của hầu hết mọi người.
Trong kỳ nghỉ đông, trượt tuyết là môn thể thao thu hút đông người nhất. Các gia đình hoặc nhiều người kết thành một nhóm đi trượt tuyết, tạo nên một bầu không khí náo nhiệt vui vẻ trong những ngày đông giá lạnh. Vào những ngày này các hoạt động giải trí càng sôi nổi hẳn lên. Trên bờ sông hay bờ hồ, từng nhóm cùng nhau làm món ăn, ca hát vui vẻ. Trong khi đó có nhiều gia đình đèo chở nhau bằng ôtô đến những địa phương có các điểm du lịch sống cuộc sống lều trại. Có người thích nghỉ ngơi yên tĩnh trên các ngọn đồi, cũng có người thích đạp xe trên những con đường dành riêng cho họ, điều này không chỉ phản ảnh sự ham chuộng việc đi xe đạp gia tăng mà còn thể hiện sự quan tâm đến việc tiết kiệm năng lượng và giảm tối thiểu nạn ô nhiễm môi trường. Những người khác thì thích đi thăm lại các di tích xưa nổi tiếng trong nước hay đi ra nước ngoài. Những quốc gia mà người Nhật thích đến thăm nhất: Anh, Pháp, Bắc Mỹ, Thái Lan, Việt Nam… Và một thói quen không thể bỏ qua được đối với nhiều người Nhật Bản vào các ngày nghỉ là tắm suối nước nóng (Onsen). Bởi đối với họ đi tắm ở Onsen không chỉ để thoát khỏi cuộc sống đô thị ồn ào náo nhiệt mà còn vì những tính chất y học của nước suối. Họ tin rằng các khoáng chất có sẵn trong nước là một phương thức chữa trị cho rất nhiều loại bệnh. Người Nhật tắm mỗi ngày ít nhất một lần, và không phải chỉ để giữ mình sạch sẽ tinh tươm, họ còn tắm để thư giãn hoàn toàn và nạp lại năng lượng để chuẩn bị cho công việc vào ngày mai.
Satoshi Kumada – Hoàng Phú – Tuần Du lịch – 1999

Tiến tới đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6

Ngành du lịch phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn năm 1999 – 2000
Từ tháng 7-1999 đến Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 (năm 2000) toàn ngành Du lịch tổ chức 3 đợt thi đua
Thành lập Hội đồng thi đua – khen thưởng của Tổng cục Du lịch.
Thực hiện chỉ thị 35/CT-TW của Bộ chính trị, Tổng cục Du lịch quyết định mở Đại hội điển hình tiên tiến ngành Du lịch và phát động đợt thi đua từ 7/1999 đến 12/2000, nhằm động viên toàn thể cán bộ, công nhân viên toàn ngành phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhà nước giao, góp phần khắc phục khó khăn, giữ vững sự ổn định và đẩy mạnh sự nghiệp phát triển du lịch của đất nước.
Theo kế hoạch số 703/TCDL-TĐ ngày 1-7-1999 của Tổng cục Du lịch, đợt thi đua chào mừng Đại hội và kỷ niệm các ngày lễ lớn, kỷ niệm ngành Du lịch 40 tuổi tập trung vào thực hiện các mục tiêu chính: phấn đấu đến năm 2000 Việt Nam đón được 2 triệu khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa đạt 11 triệu lượt người. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, kinh doanh góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Từ tháng 7/1999 đến Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6 (cuối năm 2000) toàn ngành Du lịch tổ chức 3 đợt thi đua. Đợt 1 (từ tháng 7/1999 đến 22/12/1999) có chủ đề “vì sự an toàn – trật tự – vệ sinh tại các điểm tham quan du lịch”. Đợt 2 (từ 22/12/1999 đến 9/7/2000) và đợt 3 (từ 9/7/2000 đến hết năm 2000) tập trung vào chủ đề “vì chất lượng cao của sản phẩm du lịch”, thi đua hoàn thành xuất sắc chương trình công tác và nhiệm vụ kế hoạch của ngành năm 2000, lập thành tích chào mừng các sự kiện quan trọng trong năm: chào mừng Đảng tròn 70 tuổi, 55 năm Cách mạng tháng Tám, ngành Du lịch Việt Nam 40 tuổi, chào mừng Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ 6…
Bản kế hoạch cũng hướng dẫn các phương thức tổ chức thi đua, đề ra các khẩu hiệu thi đua, các bước tiến hành với những mốc tiến độ tương ứng các nội dung, mục tiêu cụ thể. Theo dự kiến, Đại hội điển hình tiên tiến ngành Du lịch sẽ được tiến hành vào đúng ngày kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch (9-7-2000).
Để đáp ứng yêu cầu của công tác thi đua – khen thưởng (TĐ-TK) trong tình hình mới, ngày 2-7-1999 Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã ký quyết định số 197/1999/QĐ-TCDL thành lập Hội đồng TĐ-KT của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 10 thành viên chính thức do Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm Chủ tịch, Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tín là Phó chủ tịch Hội đồng.
Hoàng Mai – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Ramayana và những phù điêu ở bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng

Du khách một lần đến bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng hẳn không thể quên được những hình ảnh trên bốn bức phù điêu bằng sa thạch, trang trí chung quanh một bệ Linga – yoni được đặt chính giữa phòng trưng bày dành cho các hiện vật sưu tầm từ Trà Kiệu – Quảng Nam. Cũng như các hoa văn trang trí khác, những hình ảnh này có chức năng tô điểm và làm nổi bật tác phẩm điêu khắc độc đáo của văn hóa Chăm, thể hiện tín ngưỡng phồn thực qua hình ảnh của một bệ Linga – yoni. Song, điều đáng nói chính là nội dung đặc biệt của bốn bức phù điêu này. Đây là những trích đoạn bằng hình ảnh của sử thi Ramayana nổi tiếng của Ấn Độ.
Ramayana là sử thi kể về chiến công lừng lẫy của Rama, hoàng tử con vua Dasaratha nhân đức. Bức phù điêu thứ nhất, phía trái từ công bảo tàng vào, gồm 16 nhân vật tả cảnh hoàng tử Rama bẻ gãy cung thần Rudra ở thành Videha của xứ Mithila. Rama được quyền cưới con gái vua Janaka, công chúa Sita sắc đẹp tuyệt vời. Đó chính là đoạn đầu của sử thi và cũng là thành công đầu của Rama từ khi theo thầy Visvamitra lên đường lập chí. Đoạn này thể hiện sức mạnh của Rama hay chính là hiện thân của thần Brahma vĩ đại.
Mặt phía trong gồm 16 nhân vật tả cảnh sứ giả được vua Janaka phái đến Ayodya mời đức vua Dasaratha, phụ vương của Rama. Sứ giả báo cho vua Dasaratha biết thành công của Rama, dâng lễ vật và mời ông đến Videha làm lễ cưới cho con trai mình. Bức thứ ba, phía phải từ cổng vào, là cảnh lễ cưới ở hoàng gia gồm 18 nhân vật. Đây là lễ cưới của Rama và Sita, và của 3 em trai của Rama cùng với 3 em họ của Sita.
Bức phù điêu cuối cùng, đối diện cổng bảo tàng, là hình ảnh của 11 vũ nữ Apsara dưới sự hướng dẫn của hai nhạc công gandharva. Các tiên nữ đang múa hát ca mừng lễ cưới. Những hình ảnh tuy được tạo trên chất liệu đá nhưng hết sức mềm mại và sống động.
Cả 4 cảnh này đều thuộc về đoạn đầu của sử thi. Dưới con mắt tinh tế và bàn tay tài ba của các nghệ nhân Chăm thế kỷ VII, những tác phẩm điêu khắc chịu ảnh hưởng của phong cách nghệ thuật Amaravati Nam Ấn này được thể hiện công phu và sinh động. Cùng với hàng loạt các tác phẩm điêu khắc khác, chúng ra đời vào thời cực thịnh của Vương quốc Chămpa, thời kỳ Simhapura thế kỷ IV – VIII.
Về khía cạnh văn hóa, những tác phẩm này là một bằng chứng thuyết phục về sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ lên đời sống văn hóa tinh thần của người Chăm. Về mặt tôn giáo thì đây là một trong những hình thức biểu hiện sự tôn vinh Bàlamôn giáo trong ý thức hệ của người Chăm. Hình ảnh chàng Rama dũng cảm chính là hiện thân của đấng sáng tạo Brahma, vị thần được đầu thai làm hoàng tử Rama, con trai của vì vua nhân đức Dasaratha. Và, như đã sắp đặt trước, Sita chính là hiện thân của Sarasvati, nữ thần âm nhạc, thông minh và sự hiểu biết, là vị thần đã sáng tạo ra chữ cái Phạn ngữ (Sanskit). Trong sử thi, Sita thực hiện hoàn thiện vao trò của một người vợ đức hạnh, thuỷ chung khi bị tên quỷ mười đầu Ravana bắt về làm vợ. Một Sita như thế xứng đáng được tôn thờ nơi thiết chế xã hội là gia đình mẫu hệ đang được tôn trọng và duy trì.
Qua bốn bức phù điêu ở bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng, Ramayana không chỉ là một pho kinh của riêng người dân Ấn mà còn là ước mơ diệt trừ tàn bạo, ác quỷ, cầu mong bình yên, hạnh phúc của các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo Ấn Độ huyền bí. Ước mơ một Rama anh hùng, bách chiến bách thắng, một Sita đức hạnh, tài sắc, thủy chung chính là ước mơ của người Chăm đương thời và chắc hẳn cũng là ước mơ của mỗi người Việt chúng ta.
Hồ Ngọc Thanh – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Kỷ niệm 40 năm phim truyện Việt Nam: Tuệ Minh – ngôi sao lấp lánh

Trong số diễn viên ít ỏi của điện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ đầu, Tuệ Minh nổi lên như một ngôi sao lấp lánh, trở thành một hiện tượng nổi trội, chiếm được tình cảm nồng hậu của người xem và cả lòng yêu mến của bạn bè đồng nghiệp. Cùng với các diễn viên điện ảnh khóa đầu tiên như Trà Giang, Ngọc Lan, Lâm Tơi, Thúy Vinh…, Tuệ Minh đã góp phần không nhỏ làm nên gương mặt trong trẻo và tươi sáng của nền điện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ non trẻ. Có thể nói, ở Tuệ Minh có sự kết hợp hài hòa những yếu tố tiên quyết của người nghệ sỹ biểu diễn, đó là sự nhạy cảm nghệ thuật, lòng say mê nghề nghiệp, thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và kỹ năng diễn xuất đạt đến trình độ điêu luyện. Xem Tuệ Minh biểu diễn trên màn ảnh, trên sân khấu kịch nói, trên màn ảnh vô tuyến truyền hình, và cả trên làn sóng Đài phát thanh nữa… chúng ta đều dễ dàng nhận ra những dấu ấn trong phong cách biểu diễn của chị.
Tuệ Minh quê ở Gia Lâm, Hà Nội, nhưng chị sinh ra và lớn lên ở Kinh Đô 36 phố phường. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chị theo gia đình tản cư lên Thái Nguyên và tiếp tục việc học tập ở vùng núi chiến khu cách mạng. Năm 1953, khi vừa tròn 16 tuổi, chị được một người bác họ là nhà văn Kim Lân giới thiệu với nhà thơ, nhà soạn kịch Thế Lữ và nhạc sỹ Nguyễn Xuân Khoát. Thấy Tuệ Minh xinh tươi, linh lợi và duyên dáng, Thế Lữ đã không ngần ngại nhận cô bé 16 tuổi ấy vào làm diễn viên cho đoàn Ca múa kịch nhân dân Trung ương do chính ông phụ trách. Thế là, mới 16 tuổi, cô bé Tuệ Minh đã hồn nhiên bước vào cuộc đời nghệ thuật và gắn bó với nó như hình với bóng cho tới tận bây giờ.
Sau nhân vật cô Thơm trong bộ phim Một ngày đầu thu của đạo diễn Huy Vân, Tuệ Minh liên tiếp được các đạo diễn mời đóng vai chính trong những phim sau đó như Nguyễn Văn Trỗi, Người đôi bờ, Vợ chồng anh Lực, Ngày lễ Thánh, Dòng sông âm vang, Vĩ tuyến 17 – Ngày và đêm, Em bé Hà Nội….. Bây giờ, mỗi lần nhắc lại, người xem vẫn còn nhớ ra một Tuệ Minh duyên dáng và đằm thắm, thông minh và sâu lắng, hồn nhiên mà sắc sảo thông qua nhưng vai diễn hết sức khác nhau của mình. Khi đến với một vai diễn mới, dù là vai chính hay vai thứ, Tuệ Minh luôn biết quên mình đi, vận dụng một tâm hồn riêng biệt, khiến cho các nhân vật của chị đảm nhiệm có sức quyến rũ mạnh mẽ đối với người xem. Ngay cả trên sàn diễn sân khấu cũng vậy, Tuệ Minh từ cánh gà bước ra không còn là Tuệ Minh nữa mà đã là một cô Phượng (trong vở kịch Cách mạng của nhà văn Nguyễn Khải) làm cho khán giả thốt nhiên nín thở. Và khi đó, chỉ còn vang lên giọng nói như tiếng khánh bạc của Tuệ Minh trong vai cô gái quyền quý kia…
Mấy năm gần đây, cũng như những đồng nghiệp cùng trang lứa, Tuệ Minh ít xuất hiện trên màn ảnh. Với lòng yêu nghề tha thiết, Tuệ Minh đã tìm cho mình một nghề mới, rất phù hợp với nguyện vọng và khả năng của chị, đó là nghề đào tạo những diễn viên sân khấu và điện ảnh cho tương lai. Chị tham gia giảng dạy ở Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội, Trường Sân khấu và Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát tuổi trẻ… Các lớp học sinh của chị đã lần lượt ra trường và đang chiếm lĩnh các sân khấu và màn ảnh trên cả nước.
Lý Nguyên Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Thú vui du hành trên tàu điện

Nhật Bản có một hệ thống đường sắt chằng chịt khoảng chừng 27.000 km. Gần 20.000 km trong hệ thống này thuộc về nhóm JR (trước kia là Đường sắt quốc doanh Nhật Bản). Công ty này đã có đóng góp quan trọng cho việc tái thiết kinh tế Nhật Bản những năm sau chiến tranh và thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng sau đó. JR cũng nổi tiếng vì đứng đầu thế giới về kỹ thuật đường sắt, đặc biệt nó đã cho ra đời hệ thống đường sắt tốc độ cao đầu tiên trên thế giới Shinkansen (gọi là tàu hình viên đạn) vào năm 1964. Bạn có thể đi du lịch gần như suốt dọc Nhật Bản bằng tàu Shinkansen, từ Hakata ở Kyushu cho đến tận Miorika ở phía Bắc Honshu. Tốc độ cao nhất của con tàu này là 300km/giờ. Bạn chỉ mất hơn 2 tiếng đi từ TOKYO đến Osaka dài 540km.
Hệ thống tàu điện đem lại cho du khách ba điều thuận lợi (1) nó chuyên chở một số đông hành khách an toàn và đúng giờ; (2) có thể ngồi ung dung thưởng thức phong cảnh không ngừng thay đổi; (3) có thể thưởng thức cơm hộp dành cho khách đi tàu điện.
Một điểm lợi khác của việc du hành bằng tàu điện ở Nhật Bản là bạn có thể ung dung ngồi thưởng thức cảnh đồng quê xinh đẹp. Phong cảnh sẽ luôn thay đổi khi bạn đi từ biển đến hẻm núi, rồi qua đèo đến một thế giới khác. Từ cửa sổ của tàu điện bạn có thể nhìn xuyên qua những rào dậu của các gia đình ở các làng nông nghiệp và chài lưới, hoà lẫn trong cảnh thiên nhiên xanh đẹp của bốn mùa trong năm.
Mùa xuân mang cho bạn hoa Cải dầu vàng rực, hoa Anh đào hồng hoặc trắng. Hè tới là cây cỏ xanh rờn và ánh đèn lấp lánh của ngư thuyền vào ban đêm. Thu về mang theo những rừng cây lá đỏ và tuyết trắng vào mùa đông. Mỗi vùng đều có một vẻ riêng.
Tuyến Shinkansen Tolaido từ Tokyo về hướng tây để đi Shiosaka, núi Phú Sĩ sẽ hiện ta phía bên phải bạn.
Tiếp đến là những đồn điền trà gần Shizuoka, hồ Hamana. Sau đó bạn qua một đèo thấp ở Sekigahara giữa tỉnh Gifu và Shga, mùa đông có tuyết bao phủ.
Nếu bạn muốn xem cảnh đồng quê, hãy đi một chuyến tàu thuốc tuyến Takayama từ Nagoya để qua các hẻm núi đến những vùng cao dưới chân rặng An – pơ của Nhật. Xa hơn về phía tây tuyến Sanin dọc theo miền duyên hải Biển Nhật Bản. Nếu bạn có dịp thăm vùng Shin, hãy đi tuyến Ichibata. Tàu này chạy dọc theo bở hồ Shinji, nơi gợi ta nhớ đến nhà văn Lafcadio Hearn, đến chỗ tụ hội của các vị thần Nhật tại đền Tzumo.
Mỗi năm đường sắt Nhật Bản chuyên chở 22,63 tỷ lượt hành khách. Nếu chia đều cho 125 triệu dân Nhật thì bình quân mỗi người đi 200 chuyến tài điện mỗi năm. Chúng ta có thể cho rằng việc dùng đường sắt nhiều như thế này ở Nhật có thể khiến cho các công ty đường sắt trên thế giới phải ganh tị và ngành đường sắt Nhật Bản thu được một nguồn lợi nhuận khá lớn.
Thanh Thủy – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Khởi công xây dựng khu du lịch Victoria Hoian Resort

Sáng 25/7/1999, tại Hội An, Công ty liên doanh du lịch Hoài Giang đã làm lễ động thổ khởi công xây dựng du lịch Victoria Hoi An Resort tại Cửa Đại. Đây là khu du lịch có khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao đầu tiên ở Hội An và miền Trung. Khu du lịch còn có nhiều khu vui chơi, giải trí, tắm biển v.v… Tổng kinh phí xây dựng của dự ác này là 5 triệu USD.
Thế mới của thầy thuốc
Ngày 13-7-1999, nhà thơ – nhà báo Nguyễn Hà ốm nặng chuyển vào khoa cấp cứu nội C Bệnh viên Giao thông vận tải I trong tình trạng mười phần hỏng chín, nhiệt độ 39,7 độ, huyết áp 70/50, chị Mai (vợ duy nhất của nhà thơ) chỉ biết… ôm mặt nức nở. Bệnh nhân vừa được xếp chỗ, bác sĩ trưởng khoa Trần Đức Đọc, các bác sĩ chuyên khoa Phú và Thư (nữ) cùng rất đông y tá (cô nào cũng xinh) Thủy, Lan, Nhâm, Lụa, Sải, Hương… đã có mặt bên giường và ngay sau đó tiến hành khẩn trương thực hiện các biện pháp cấp cứu cần thiết. Đây là ca cấp cứu, điều trị khá phức tạp vì bệnh nhân vừa mắc tiểu đường và vừa bị phổi mà thể trạng lại quá suy kiệt; mấy ngày tiếp theo bệnh tình vẫn diễn biến theo chiều hướng xấu, nhiệt độ lúc tăng (40 độ), lúc tụt (35 độ), huyết áp thì hập phù… Nhưng nhờ tập thể thầy thuốc có chuyên môn giỏi và tinh thần trách nhiệm cao nên chỉ sau một tuần, nhà thơ đã biết cười trở lại, sức khỏe bình phục trông thấy. Mong sao (nói dại) đến bệnh viện mà gặp được những người thầy thuốc như vậy thì cũng yên tâm lắm thay!
Đà Nẵng: Khai giảng lớp bồi dưỡng kiến thức giao tiếp cho lái xe vận chuyển khách du lịch
Vừa qua, Trung tâm xúc tiến Du lịch Đà Nẵng phối hợp Trường Kế hoạch Kinh doanh 2 Đà Nẵng tổ chức khai giảng lớp Bồi dưỡng kiến thức giao tiếp cho gần 50 lái xe vận chuyển khách du lịch thuộc các Công ty kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tổ chức về nghiệp vụ này. Lớp học nhằm nâng cao trình độ giao tiếp, thái độ và phong cách ứng xử với khách du lịch, góp phần nâng cao trình độ phục vụ, thu hút khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng.
Ngô Thị Hoàng Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 1999

Hoạt động du lịch Hải Phòng

Ba tháng đầu năm nay, các Công ty Du lịch, Dịch vụ ở Hải Phòng đã đón và phục vụ 35 nghìn lượt khách quốc tế tăng 19,13% so với quý I năm 1999. Trong đó khách du lịch Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn. Cũng trong thời gian này, Công ty Du lịch Hải Phòng phối hợp với một số hãng lữ hành quốc tế đón 3 tàu du lịch biển với gần 1 nghìn khách du lịch châu u.
Nhân dịp Festival Huế 2000 Công ty Thương mại và Du lịch Thừa Thiên Huế đã mở thêm một loại hình du lịch mới là du lịch vườn rau xanh, hàng ngày thu hút hàng trăm khách trong và ngoài nước.
Lễ hội văn hóa du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng – điểm hẹn năm 2000
Hưởng ứng chương trình hành động quốc gia về du lịch của Tổng cục du lịch, ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng sẽ tổ chức lễ hội Văn hóa du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng – điểm hẹn năm 2000. Lễ hội sẽ diễn ra tại Đà Lạt từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 năm 2000, nhằm giới thiệu thành tựu và tiềm năng du lịch Lâm Đồng, các dự án phát triển, liên hoan ẩm thực giới thiệu các đặc sản của thành phố và tỉnh Lâm Đồng, các món ăn đặc trưng của ba miền Bắc – Trung – Nam, lễ hội văn hóa giới thiệu tính đa dạng, đặc sắc của nghệ thuật, văn hóa các dân tộc trên vùng núi cao. Và đặc biệt có chương trình du lịch núi, chinh phục đỉnh Langbiang rất hấp dẫn đối với du khách, giới trẻ trong nước và khách du lịch nước ngoài. Đây cũng là dịp thu hút khách du lịch đến với Đà Lạt – Lâm Đồng nhân kỷ niệm 25 năm ngày giải phóng miền Nam.
Triển lãm tranh sơn mài của 20 họa sĩ Việt Nam
Hội mỹ thuật Việt Nam kết hợp với ông Wan Caron tiến sĩ Ronald Berlier đã tuyển chọn và trưng bày 20 tranh sơn mài của 20 họa sĩ Việt Nam trong đó Hà Nội, 12, Huế 1, Thành phố Hồ Chí Minh 7. Tranh sơn mài truyền thống Việt Nam được thể hiện đại, với khổ nhỏ nhất là 80 x 80 cm, khổ lớn là 1,5 mét x 3,6 mét. Phòng tranh được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, 66 Nguyễn Thái Học – Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 26 tháng 4 năm 2000 và sẽ khai mạc ở bang Colorado, sau đó là bang California và Hawai của Mỹ từ ngày 14 tháng 7 năm 2000 đến tháng 4 năm 2001.
Mỹ Sơn, Hội An đón bằng di sản văn hóa thế giới
Theo tin Bộ văn hóa – Thông tin, ngày 21 tháng 4 năm 2000, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam tổ chức lễ đón nhận bằng của Unesco công nhận khu di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới. Theo dự đoán của giới chuyên môn, giống như quần thể di tích Huế và Vịnh Hạ Long, khu di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An sau khi được công nhận là di sản thế giới chắc chắn sẽ trở thành trung tâm du lịch rất lớn của Việt Nam.
Quảng Bình khai trương tuyến du lịch mới
Ngày 9 tháng 4 năm 2000, tỉnh Quảng Bình đã tổ chức lễ khai trương tuyến du lịch động Tiên Sơn. Động Tiên Sơn còn gọi là động Khô cách cửa động Phong Nha khoảng 300 mét về phía đông Nam, ở độ cao là 200 mét so với chân núi. Kinh phí đầu tư xây dựng đường lên xuống, đường đi lại trong động và điện thẩm mỹ ước chừng 3,2 tỷ đồng. Trong ngày khai trương đã có hàng nghìn lượt khách đến thăm quan động Tiên Sơn.
Lê Hiệp-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Hấp thụ nền công nghiệp của người Pháp

Nhưng có một điều, thương hiệu Bia Sài Gòn hiện diện trên đất Sài Gòn hơn 1 thế kỷ qua, khiêm tốn mà nói, điều này chắc ít ai biết? Tuy nhiên, nhãn hiệu Bia Sài Gòn ngày nay lại quá quen thuộc đối với thực khách sành điệu, thâm chí những đối tượng không chuyên cũng chẳng lạ lẫm gì. Tưởng cũng nên nói rõ, nhãn hiệu Bia Sài Gòn còn lan rộng ra cả vùng Đông Nam Á từ cách đây hơn một thế kỷ. Vì sao? Vì đó là một loại bia có hương vị độc đáo, ngoài chức năng giải khát thông dụng, còn là một ẩm thực khai vị tuyệt vời, góp phần trong bữa ăn cho người thưởng thức thêm ngon miệng tăng niềm sảng khoái. Điều này hơn ai hết, người tiêu dùng quá rõ. Bởi lẽ dùng Bia Sài Gòn trước tiên tạo cảm giác cho người thưởng thức về mặt tinh thần thật sự an tâm, đúng hơn thương hiệu Bia Sài Gòn đã để lại trong lòng người tiêu dùng nhiều kỷ niệm đẹp. Thứ nhất trong thực tế giá cả phải chăng ổn định phù hợp mọi người. Thứ hai chất lượng hương men đậm đà không thay đổi biến dạng… Không những thế dùng Bia Sài Gòn ẩn tiềm trong lòng mọi người niềm tự hào sâu sắc “Người Việt nam dùng hàng Việt Nam”. Để biết được điều đó, ta có thể đi ngược thời gian tìm hiểu về quá trình hình thành và sự phát triển của nó từ xưa cho đến nay. Như chúng ta đã biết theo dòng lịch sử vào giữa thế kỷ XIX (1858) người Pháp nổ súng đầu tiên xâm lược nước Việt Nam ta, tấn công Đà Nẵng… gần ngót 20 năm viên chính… đến năm 1883 đến năm 1884 buộc Triều Nguyễn phải ký hòa ước thừa nhận nền thống trị của Pháp trên lãnh thổ Của Việt Nam. Tại vùng đất Sài Gòn, một trong những công nghiệp hiện đại đầu tiên được xây dựng phát triển và tồn tại đến ngày hôm nay đó là vào năm 1875 nhà máy Bia Sài Gòn ra đời. Đây cũng là cánh cửa hé mở đầu tiên người Việt Nam làm quen với nền công nghiệp phương Tây thời bây giờ. Nhà máy Bia Sài Gòn, tiền thân do tập đoàn BGI của người Pháp sáng lập, khuôn viên nhà máy, được xây dựng trên địa bàn phía Tây Sài Gòn Lớn tổng diện tích là 25 nghìn đồng một mét vuông, cổng chính tiếp giáp với đường Armand – Eoss, sau đó thay đổi, đường Trần Hoàng Quân và ngày nay là đường Nguyễn Chí Thanh, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh.
Hấp thụ nền công nghiệp của người Pháp, hãng Bia Sài Gòn thời bấy giờ, xuất xưởng đầu tiên tại Việt Nam mang tên nhãn hiệu của nhà tư bản Pháp Victon Laure (Bia Larue), trong giới bình dân thường gọi là bia Lave thay bia con cọp loại bia con cọp loại bia này được chứa trong chai thủy tinh màu nâu dung tích là 60 ml tương đương với 3 xị, và bia 33 hai số ba. Quá trình trong công đoạn sản xuất của Bia Sài Gòn từ năm 1875 đến 1900 chủ yếu là công nghệ sản xuất thủ công theo phương cách của dân miền Nam nước Pháp nấu, lên men lọc và chiết bia dây chuyền công nghệ bán tự động. Về nguyên liệu: Đại mạch (Malt) + Hoa Bia (Houblon) + Phụ gia khác… Qua đó những công nghệ năm ấy sản lượng mỗi năm chỉ đạt từ 30 triệu lít đến 40 triệu lít.Tuy số đó không phải là nhiều nhưng vẫn tạm cung cấp đủ toàn lãnh thổ Việt Nam và các nước Đông Dương. Điều muốn nói ở đây, nhà máy Bia Sài Gòn ra đời một trong những dấu ấn lịch sử của nền công nghiệp Việt Nam ta hiện nay là mẹ đẻ của làng bia Việt Nam, là cầu nối dìu dắt những đứa em kế tiếp. Hiện nay nhà máy Bia Sài Gòn được đổi tên thành Công ty Bia Sài Gòn. Thành viên của Tổng công ty rượu bia nước giải khát Việt Nam đồng thời là doanh nghiệp chủ đạo của Nhà Nước của ngành công nghiệp chế biến bia. Thế nên, cơ sở vật chất hiện nay nhân sự, đã lớn mạnh và sự đổi mới hoàn toàn vượt thời gian không gian, quy mô công. Năm 1998 sản lượng của công ty là 180 triệu lít. Năm 1999 dự kiến là 200 triệu lít. Từ sản lượng 40 triệu lít trong một năm đến gần 200 triệu lít trong một năm, số tăng kể từ đầu năm 1996 trở lên, một con số chênh lệch vượt thời gian quá ngắn, quả là một điều đáng khích lệ và đáng tự hào cho công ty Bia Sài Gòn hân hoan đón nhận huân chương Lao động hạng nhất của chủ tịch nước trao tặng về thành tích sản xuất kinh doanh và năm 1997 Huân chương hạng Ba về công tác đền ơn đáp nghĩa. Những thành quả trên, theo ông Nguyễn Chí Thành giám đốc công ty Bia Sài Gòn cho biết đó là nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên nhà máy Bia Sài Gòn luôn nêu cao tinh thần ý thức chung, lòng đoàn kết tính năng động, yêu nghề mến việc và đồng thời tận tụy trong công việc với phương châm chất lượng – uy tín – phục vụ tốt. Trong nhịp độ phát triển đó công với quá trình hình thành lâu đời đi đôi với chất lượng nổi tiếng, tin chắc một ngày không xa lắm trước thềm thế kỷ XXI thương hiệu Bia Sài Gòn không những người Việt biết đến mà có cả khách năm châu trong hành tinh không sao thiếu được trong sổ tay du lịch về ẩm thực độc đáo của Bia Sài Gòn đã nổi tiếng ngót gần hơn thế kỷ qua tại Việt Nam dấu yêu của chúng ta.
Liu Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000

Trang nghiêm trọng thể và tính giáo dục truyền thống đạo lý dân tộc

Trong những năm qua thực hiện quyết định của chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tu bổ khu di tích Đền Hùng trên cơ sở giữ nguyên kiểu dáng quy mô kiến trúc thay thế những chỗ hư hỏng, sửa chữa hệ thống hạ tầng, hoàn thiện nội thất và sân vườn Bảo tàng Hùng Vương, xây dựng nhà điều hành đón khách về giỗ Tổ, trồng lại rừng sinh cảnh, cây bản địa đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân các xã quanh khu di tích đi lại thuận tiện phát triển kinh tế văn hóa xã hội. Lễ hội Hùng Vương được tổ chức trang trọng hơn, quy mô hơn, phần lễ đã kế hợp nghi thức cổ truyền và hiện đại, phần hội tổ chức trong một không gian rộng lớn với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, rước kiệu đánh trống đồng, cồng chiêng, đâm đuống, múa sư tử, múa rồng, nấu cơm thi, kéo co, đu tiên, các môn thể thao thư vật, cờ tướng, cờ người, bắn nỏ cùng với các loại hình sinh hoạt văn hóa, thể thao hiện đại được kết hợp hài hòa trong chương trình đáp ứng được một phần nhu cầu của đồng bào cả nước về dự hội. Đặc biệt là năm 1995 ngày giỗ tổ Hùng Vương đã được ghi trong thông báo số 24 của Ban bí thế là một trong những ngày lễ lớn của dân tộc. Tỉnh phối hợp với Bộ văn hóa – thông tin tổ chức trong 10 ngày từ mồng một đến mồng mười tháng ba âm lịch. Đây có thể nói là ngày giỗ tổ và lễ hội Đền Hùng tổ chức với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên để ngày giỗ tổ trở thành ngày quốc tế, lễ hội Đền Hùng trở thành lễ hội mang tầm cỡ quốc gia thì còn nhiều vấn đề phải bàn, phải làm. Điều mà chúng tôi còn bâng khuâng là hiện nay dù đã có một số hạng mục công trình theo quy hoạch tổng thể được xây dựng, Đền Hùng đã khang trang hơn trước song cơ sở hạ tầng: điện nước, đường giao thông, bãi đỗ xe, rừng cây xanh, các công trình văn hóa, khu trung tâm lễ hội, các công trình phục vụ cho khách du lịch, đồng bào cả nước về thăm Đền Hùng còn thấp kém cần phải được xây dựng và nâng cấp. Có như thế Đền Hùng mới trở thành khu du lịch văn hóa tâm linh và du lịch sinh thái. Muốn vậy các dự án của Đền Hùng đề nghị được chính phủ đưa vào công trình trọng điểm của quốc gia về văn hóa ghi thành mục đầu tư riêng, có áp dụng các chính sách và phương thức chỉ đạo loại công trình trong điểm. Năm 1997 đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ đã có đề nghị lên Quốc Hội, chính phủ đưa ngày giỗ tổ Hùng Vương thành Quốc giỗ. Mới đây trong dịp đoàn đại biểu tỉnh Phú Thọ tham gia các hoạt động kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh tại cuộc họp báo giới thiệu về Đền Hùng và nền văn hóa truyền thống vùng Đất Tổ đồng chí Bí thư tỉnh ủy cũng nêu lại vấn đề này. Vừa qua Văn phòng chính phủ có thông báo giao cho Bộ văn hóa Thông tin, Bộ lao động thương binh xã hội và ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ xây dựng đề án Giỗ tổ Hùng Vương – Quốc lễ. Bộ văn hóa thông tin đã có một bước chuẩn bị tổ chức hội thảo với các nhà khoa học xã hội và nhân văn, các nhà sử học về vấn đề này. Ở góc độ là những người trực tiếp giỗ tổ, tổ chức lễ hội Hùng Vương chúng tôi đã có bước chuẩn bị xây dựng kế hoạch tổ chức giỗ tổ năm 2000 ở cấp độ quốc gia. Trong ý tưởng xây dựng kế hoạch này thì trước hết về nghi thức, chủ lễ là chủ tịch nước hoặc Thủ tướng chính phủ tham gia đoàn đại biểu dự lễ dâng hương còn có các quan chức của Chính phủ, các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh của 60 tỉnh, thành trong nước, đại diện 54 dòng họ thay mặt 54 dân tộc anh em cùng đại biểu các ban, ngành của tỉnh Phú Thọ của huyện Phong Châu của xã Hy Cương sở tại. Nghi thức lễ phải kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại đạt được tính trang nghiêm trọng thể và tính giáo dục truyền thống đạo lý dân tộc Việt Nam uống nước nhớ nguồn, biết ơn Tổ tiên.. các hoạt động văn hóa tại hội phải được lựa chọn nâng cao để đưa vào chương trình, trong đó đặc biệt chú ý các sinh hoạt văn nghệ, văn hóa dân gian đặc sắc của vùng đất Tổ và của các vùng văn hóa khác cùng tiết mục tiêu biểu của đoàn nghệ thuật Trung ương kết hợp với địa phương để tạo ra một không gian sống động đang cài truyền thống dân tộc và hiện đại. Tại hội nghị cấp cao các nước khối Asean họp tại Hà Nội trước tết Kỷ Mão 1999 các nước thành viên đều tán thành mỗi nước nên có một ngày di sản để nhân dịp đó, bằng nhiều hình thức hoạt động văn hóa, nhắc nhở khuyến khích việc bảo vệ di sản văn hóa của mỗi dân tộc và của nhân loại. Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày di sản của Việt Nam để tưởng nhớ cội nguồn, để giữ gìn những di sản mà các Vua Hùng đã gây dựng để trong thời gian tới chúng ta đến với ngày giỗ tổ như một ngày Quốc lễ trọng đại của dân tộc.
Trần Kim Thau-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.