Di sản vịnh Hạ Long nhất định sẽ được bảo vệ và phát huy giá trị tốt hơn nữa – Phần 1

Năm 1998, trong khi tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, hoạt động du lịch đều giảm sút về số khách, hệ số buồng phòng, doanh thu và lợi nhuận thì trái lại, du lịch Hạ Long vẫn duy trì được nhịp độ phát triển khá cao. Tiếp xúc với các đồng chí lãnh đạo Ban quản lý Di sản vịnh Hạ Long, chúng tôi được biết chỉ trong 3 tháng quý I năm 1999, Hạ Long đã đón tới 95.018 khách, trong đó có 66.302 khách quốc tế, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm 1998. Chỉ riêng doanh thu bán vé tham quan quý I đã đạt 2 tỷ 73 triệu đồng, bằng 43% cả năm 1998. Rõ ràng, du lịch Hạ Long đã tạo ra được bước phát triển có tính đột biến. Nhân dịp này, phóng viên báo Tuần Du lịch đã có cuộc tiếp xúc và trò chuyện với Nguyễn Văn Tuấn – Trưởng Ban quản lý Di sản vịnh Hạ Long.
Phóng viên: Xin chúc mừng Ban quản lý di sản văn hóa vịnh Hạ Long về niềm vui này, nhân đây xin ông cho biết nguyên nhân đã tạo ra được những kết quả đáng khích lệ đó?
Ông Nguyễn Văn Tuấn: Trước hết phải nói tới sự quan tâm của Đảng bộ và Chính quyền tỉnh Quảng Ninh về vấn đề này. Sự kiện vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào tháng 12 năm 1994, một mặt đặt ra thách thức và trách nhiệm nặng nề đối với tỉnh Quảng Ninh trong việc quản lý, bảo tồn Di sản này, mặt khác cũng là một thuận lợi, một thời cơ mới để khai thác và phát huy giá trị của nó. Việc bảo vệ và phát huy giá trị của Vịnh Hạ Long đã được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh xác định là một trong nhưng ưu tiên hàng đầu. Một loạt chương trình đã được thúc đẩy, triển khai trên định hướng này. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời nhằm điều chỉnh các vấn đề đặt ra trong quản lý và khai thách Vịnh Hạ Long. Ban quản lý Di sản Vịnh Hạ Long trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh đã được thành lập với chức năng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của Vịnh Hạ Long. Tỉnh ủy và Ủy nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngày chức năng và Thành phố Hạ Long phối hợp thường xuyên và có hiệu quả hơn trong quản lý, khai thác. Ngành du lịch và Thành phố Hạ Long đã xúc tiến được nhiều chương trình cụ thể. Chương trình phát triển du lịch biển đảo đến năm 2010 và chương trình tu bổ tôn tạo và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long 5 năm từ năm 1999 đến năm 2003 được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Nguyễn Phú Anh Vân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(69))1999.

Nghệ thuật ẩm thực – Hải xà cửa nhượng

Từ khi người đời phát hiện ra bãi biển Thiên Cẩm (Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) chính là một bãi tắm tuyệt diệu, mùa hè, người tứ xứ cưỡi mô tô, ô tô về nghỉ, tắm kìn kìn, thì ông em giai nhà báo Triều Hải Quỳnh, một như dân chính hiệu, cũng phát hiện ra rằng thả lưới trên cạn dễ “kiếm cá” hơn là thả lưới dưới biển. “Cá” đây là những cái ví tiền đầy căng của du khách còn lưới của ông, chính là cái quán nhậu với món đặc sản “Hải xà”, tục danh là rắn biển mà ngư dân vẫn gọi bằng con đẻn. Rắn đẻn là một giống vật lạ lùng. Đầu rắn, thân rắn, nhưng đuôi lại bẹt ra như cái mái chèo để quạt nước. Chính nhờ cái “mái chèo” này mà con đẻn có sức bơi cực kỳ dũng mãnh, nhất là lúc nó ngon ngót cái dạ dày. Những con cá, con tôm bị nó phát hiện ra, đừng hòng thoát. Bình thường con đẻn nằm sát đáy biển, chỉ lúc đói mới nhao ra. Vừa có phổi như bò sát lại vừa mang như cá. Chính vì thế mà tuy sống chủ yếu trong nước, nhưng bị bắt lên cạn, đẻn có thể sống được tới 48 tiếng đồng hồ. Họ nhà đẻn khá phong phú như đẻn hoa, đẻn kim, đẻn cơm, đẻn rồng, đẻn khoang… Con đẻn khoang trông hệt con cạp nong, cũng từng khoanh đen vàng xoắn xuýt. Nếu không có cái đuôi bẹt thì đố nhận ra. Quý nhất là đẻn kim, đẻn rồng. Giống đẻn nào cũng độc. Người bị đẻn cắn không bị đau nhức sưng tấy như bị rắn độc trên đất cắn, mà khi nọc ngấm, chợt thấy buồn ngủ. Rồi cứ thế ngủ lịm đi, lịm đi mãi. Nếu không kịp thời cứu chữa có thể chết. Bờ biển nước ta có khá nhiều nơi có rắn biển. Nhưng nhiều nhất có lẽ là Cửa Nhượng này. Cách đây mươi năm, ngư dân chả ai ăn đẻn. Kéo lưới, đi câu mà thấy, đập chết quẳng lên bờ cả đống. Cũng như rắn mòng (nùng nục) ở Thái Bình, Nam Định vậy thôi. Hơn hai mươi năm trước, trưa tháng sáu, nước ruộng nóng giẫy lên, nùng nục chết nổi lều bều, thối inh cả ruộng, có con to cỡ bắp tay người lớn. Hợp tác xã phải điều người nhặt đem chôn, xã viên mới dám cấy. Thế mà bây giờ lái buôn về tận làng mua nùng nục đem sang Tàu, giá tới 120 nghìn đồng một kg. Rắn biển cũng thế… Cái quán nằm sát mép biển, giữa một vườn phi lao. Giữa trưa, biển trắng lấp lóa, gió thổi lồng lộng. Nhóm chúng tôi bốn người. Vì có hẹn trước, nên chủ quán dành lại cho con đẻn cơm một cân hai. Trước mặt chúng tôi, con đẻn bị buộc cổ treo lủng lẳng, cứ gồng mình lên cuồn cuộn. Đã quá quen với những bữa thịt rắn bên Lệ Mật – Gia Lâm – Hà Nội, nên tôi chú tâm quan sát chủ quán thao tác. Xem ra anh chàng này thạo làm thịt rắn biển không kém gì thạo đi biển. Con dao sắt lia 1 vòng quanh cổ rắn. Chỉ một thoáng da rắn đã bị lột, bộ lòng rắn, anh ta uỳnh uỵch chạy vào: Này! Bác nào … bác nào… yếu cái… khoản kia nhất? Tui cho cái mật này. Về, nhất định được bác gái thưởng “huân chương”. Ở Lệ Mật, người ta hòa mật rắn vào một cốc rượu, để mỗi người nhấp một chén cơ mà. Lệ Mật có cách của Lệ Mật. Bầy tui có cách của bầy tui. Thích ai thì tui cho. Nào! Bác nào… Thấy chả có ai tỏ vẻ muốn nhận huân chương của vợ. Hắn ta đành theo gợi ý của chúng tôi, bóp cái mật vào rượu như ở Lệ Mật. Và nếu như ở Lệ Mật, người ta có thể từ con rắn chế biến được tới 40 món, thì ở đây chỉ có ba món: rắn xào lăn, rắn băm viên rán và rắn bọc lá lốt nướng. Thấy chủ quán cầm bộ da con đẻn định vứt đi. Tôi vội ngăn: Đừng! ở Lệ Mật, người ta nhúng da rắn vào nước sôi non rồi thái ra rán ròn, tuyệt lắm. Hắn ta làm theo ngay. Thế là đặc sản “Hải xà” Cửa Nhượng từ nay thêm món thứ tự. Cách chế biến ở đây không cầu kỳ như ở Lệ Mật mà mộc mạc, dân dã, vì vậy có một phong vị rất riêng. Thịt rắn biển thơm, ngọt đậm hơn thịt rắn đất, khách rất mê ăn. Bãi tắm Thiên Cẩm dài tới 2 km, nước rất trong, sóng ít, bãi sạch. Vì mới phát hiện nên vẫn còn giữ nguyên vẻ hoang sơ. Biển kề vào núi. Phía xa, Cao Vọng Sơn xanh mờ. Ngay dưới chân núi Cao Vọng là Kỳ Hoa hải khẩu, một địa danh nổi tiếng trong lịch sử. Thiên Cầm Sơn ở ngay trước mặt. Núi không cao nhưng đẹp. Tương truyền thuở mới lập nước. Mỗi khi đi tuần thú, vua Hùng lại dẫn các quan lên núi này để nghe tiếng nhã nhạc của trời. Vì vậy mà thành tên “Thiên Cẩm” đàn trời. Năm 1407, quân Minh tràn sang. Phòng tuyến Bạch Hạc vỡ, cha con Hồ Quý Ly bị bắt ở Thiên Cẩm. Hồ Hán Thương bị bắt ở núi Cao Vọng. Tướng Minh là Trương Phụ nghe chữ “Thiên Cầm” bắt dân ta đổi chữ “Cầm” là đàn sang chữ cầm là bắt. Núi Đàn trời trở thành núi Trời bắt. Mãi 20 năm sau, khi Vương Thông – tướng nhà Minh phải lập đàn thờ ở Đông Quan – Hà Nội để về đến nước còn tim đập chân run, đất nước sạch bóng giặc, thì núi trời bắt mới lại được trở lại là núi đàn trời. Thưởng thức xong bữa tiệc rắn biển. Lên Thiên Cẩm chơi. Thấy trời đất bao la. Sóng lao xao. Thông vi vút … như những bản đàn bất tận. Thảo nào mà gọi là đàn trời.
-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Phạm Lãi tướng quốc giang hồ

Trong thời Đông chu liệt quốc, Phạm Lãi có lẽ là nhân vật đặc biệt và đáng nhớ nhất. Về con người này ngay cả trong sử sách Trung Quốc, cũng có nhiều ghi chép khác nhau. Nhưng tất cả đều ghi nhận một điểm ông là nhân vật hiếm hoi đã biết và đã dám rời bỏ ngôi tướng quốc sau ngày Việt Vương Câu Tiễn chiến thắng Ngô Phù Sai để biệt tích giang hồ. Là nhà chiến lược bên cạnh Việt Vương Câu Tiễn, Phạm Lãi đã vạch cho Câu Tiễn từng đường đi nước bước sau trận thảm bại nhục nhã dẫn tới mất nước ở Cối Kê. Ông đã cùng Văn Chủng củng cố niềm tin phục quốc cho Câu Tiễn, đã cùng Tây Thi sang Ngô để dâng người đẹp nhất nước cho kẻ thù và ở lại làm con tin hai năm trời đằng đẳng. Sau ba năm, khổ nhục kế, Câu Tiễn với Phạm Lãi đến và hỏi: “Vua Ngô đã giết Ngũ Tử Tư, những kẻ ai dua nhà vua rất đông, bây giờ đã đánh được chưa?” Phạm Lãi đáp: “Chưa được” Mùa đông năm sau, vua Ngô đi học chư hầu ở Hoàng Trì, quân tinh nhuệ đi theo hết chỉ còn lại thái tử và những người già. Câu Tiễn lại hỏi Phạm Lãi: “Đánh được chưa?” Phạm Lãi đáp: “Được rồi đấy!”. Câu Tiễn nghe theo, xuất quân, thắng to, giết được thái tử. Bảy năm sau thắng nữa, dồn Ngô Phù Sai lên núi Cô Tô. Phù Sai cầu hòa. Câu Tiễn dùng dằng không nở. Phạm Lãi khuyên: “Nay trời đang đem nước Ngô trao cho nước Việt. Nước Việt có nên làm trái lệnh trời không?”. Câu Tiễn bức tử Ngô Phù Sai. Sau đó Câu Tiễn được Nguyên Vương nhà Chu ban tước bá. Trong bữa tiệc mừng chiến thắng, Phạm Lãi thấy nhà vua không vui, như không thể cười được. Ông bảo khai quốc công thần Văn Chủng: “Chim đã hết thì cũng tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn bị nấu. Vua Việt là người cổ dài, miệng diều hâu, có thể cùng lo lúc hoạn nạn, nhưng không thể cùng vui sướng với ông ta. Sao lại không bỏ đi?”. Văn Chủng không nghe. Sau đó quả nhiên bị dèm pha rồi bị Câu Tiễn bức tử. Phạm Lãi bỏ đi trên một con thuyền nhẹ như lông hồng, sang nước Tề rồi sau đó biệt tích. Người sau nói ông đi cùng người đẹp Tây Thi. Tư Mã Thiên thì cho là ông sang Tề, đổi họ tên tự gọi là Chi Di Tử, cày ruộng ở bờ biển, khổ thân cố sức, cha con cùng làm ăn, sau giàu có. Người nước Tề lại mời ông làm tướng quốc. Được ít lâu ông than: “Trong nhà thì có hàng ngàn lạng vàng, làm quan thì đến công, khanh, tướng quốc, kẻ áo vải được thế là tột bực rồi, giữ mãi cái tiếng tăm lừng lẫy ấy là không tốt”. Bèn thu vén đồ đạc tư trang, lại trốn đi. Sau đó ông lại đổi tên là Đào Chu Công, nổi danh ở đất Đào. Tư Ma Thiên viết: “Phạm Lãi ba lần đổi chỗ ở mà thành danh trong thiên hạ. Không phải ông ta chỉ bỏ đi một cách dễ dàng và thế là hết. Ông ta ở đâu là nổi dây ở đấy”. Có thể bình luận thêm: Đối với những người như Phạm Lãi đời là một cuộc đỏ đen, danh vọng, tiền bạc chỉ là nước trôi mây nổi. Chi bằng nghe lời Lão Tử: “Thành công rồi bỏ đi là hơn. Vì đi rồi thì không ai còn đuổi được nữa!”.(Đạo Đức Kinh)
Hương Linh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Có một tờ báo mang tên tiếng tù và

Trong bài viết “chàng sinh viên đam mê nghề du lịch” của Phạm Huy An đăng trên Tuần Du lịch số 12 năm 1999, có nhắc đến tờ “Tiếng tù và”, “Tiến tù và” là tác phẩm đầu tay của tập thể K41 Du lịch (Đại học khoa học xã hội và nhân văn) đoàn kết, gắn bó, sôi nổi, trẻ trung do sinh viên Trịnh Lê Anh làm “Tổng biên tập”.
Khó có thể nói hết những khó khăn mà các nhà báo nghiệp dư gặp phải như lo các thủ tục xuất bản, tập hợp bài viết, maket, in ấn và cả vấn đề tài chính nữa… Thế nhưng, nhờ sự động viên giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa, trong trường và sự nhiệt tình háo hức của các thành viên trong lớp ngày 1 tháng 10 năm 1998, đứa con chung của Du lịch 41 chào đời. Số báo đầu tiên ra đời là số báo thử nghiệm, thăm dò thị trường tuy còn có nhiều thiếu sót do hạn chế về mọi mặt và do kinh nghiệm làm báo chưa có, nhưng đó cũng là một thành công lớn ngoài sức tưởng tượng của ban báo. Tổng biên tập Trịnh Lê Anh và các thành viên khác trong ban báo như mở cờ trong bụng khi thấy những gương mặt hớn hở của các thành viên trong lớp. Rút kinh nghiệm lần trước, “Tiếng tù và số tiếp theo ra đời đã thực sự vang xa không chỉ trong khoa, trong trường. Nó đã trở thành một đứa con cưng thật gần gũi, thân thiết của sinh viên khoa du lịch. Trong tờ báo này, ta dễ dàng nhận thấy sự trưởng thành, già dặn hơn trong từng nét bút, chất lượng bài báo cũng cao hơn, đề tài viết cũng được mở rộng, quy mô hơn. Những trang: giới thiệu di tích, tìm hiểu, tìm hiểu kiến trúc, sổ tay hướng dẫn viên, hương sắc Việt Nam…. Thực sự nổi bật với những bài viết xuất sắc như: “Đền Vua Lê đâu rồi năm tháng”, “Nhà hát lớn Hà Nội” gương mặt mới, chùa keo, chuyện sông Tô… Tiếng tù và đã cất tiếng nói nhỏ bé của mình để khẳng định với đông đảo bạn bè về tài năng, sức trẻ của sinh viên Du lịch: Vừa thực hiện tốt công việc học tập để trở thành nhà du lịch giỏi – vừa thử sức mình trong lĩnh vực văn chương để trở thành nhà báo nghiệp dư. Đấy là một điều rất đáng được biểu dương và khuyến khích.
Vân Oanh – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Câu lạc bộ đầu bếp của các nguyên thủ quốc gia

Cách đây chưa lâu, có khoảng 30 đầu bếp kỳ tài là những người nấu ăn cho vua, nữ hoàng, Tổng thống và các quan chức cấp cao khác của nhà nước trên thế giới đã đến Paris tham dự cuộc gặp mặt câu lạc bộ đầu bếp của các nguyên thủ quốc gia. Họ là những đầu bếp nổi danh từ khắp các nước trên hành tinh như Brunie, Trung Quốc, Hungari, Ấn Độ, Cô oét, Marốc, Thái Lan… Đến dự cuộc họp mặt này có cả đầu bếp người Pháp Pie Sembrrin của Tổng thống Mỹ và đầu bếp người Nhật Bản Tacasi Cônđô nấu cho nữ hoàng Đan Mạch. Đáng chú ý là những đầu bếp giỏi của các nguyên thủ quốc gia trên thế giới đều là nam giới, chỉ có một phụ nữ duy nhất là bà Crixtina Giaseri đầu bếp của Tổng thống Ba Lan. Cũng có những nguyên thủ quốc gia không có đầu bếp riêng như ở Áo, Đức, và Thụy Sĩ thì người phụ trách nhóm đầu bếp của nhà khách quốc gia được mời đến tham dự cuộc họp mặt này. Trong số các đầu bếp của các nguyên thủ quốc gia trên thế giới có tám người là dân tộc Thụy Sĩ, trong đó có 7 người nói tiếng Đức.
Tiếu lâm trên đường
Con ong
Bà hàng xóm, hỏi chị giúp việc trẻ. Này, ở bên nhà, ông bà chủ đối xử với cô có tốt không?
Dạ cả nhà đều ví em như con ong, bác ạ!
Sao lại ví như con ong?
Em chả biết. Chỉ thấy ông chủ thì tươi cười luôn miệng khen em thắt đáy lưng ong.
Thế còn bà chủ?
Bà ấy thì bảo em. “Thật là nuôi ong tay áo.
Ai hơn hai?
Trong một cuộc thi nói khoác, nhân ngày “Nhà ở thế giới, một người kể”: Nhà tôi chật đến nỗi khách khứa đến nhà chơi, vừa mở cửa ra là đã phải bước ngay lên giường. Nhà còn kê được giường thì làm sao có thể gọi là chật được. Ở nhà tôi đây này, nhà tôi có nuôi một con chó, khi tôi vào nhà thì con chó phải chạy ra ngoài, khi tôi ra ngoài thì nó mới được chạy vào nhà.
Người thứ ba cướp lời: Như thế vẫn còn rộng chán! Nhà tôi ấy à, mỗi khi tôi đứng trong nhà mặc áo, thì phải thò hai cánh tay ra ngoài cửa kia!.
Mai Nguyễn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Hà Nội mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ khách sạn

Trong hai ngày 1 và ngày 2 tháng 4 năm 1999 Sở du lịch Hà Nội đã tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ khách sạn cho gần 150 giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và phụ trách các bộ phận lễ tân của các khách sạn trên địa bàn Hà Nội. Sau khi nghe ông Vũ Tuấn Cảnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch giới thiệu những nội dung cơ bản của Pháp lệnh du lịch vừa được nhà nước ban hành, các đại biểu đã được thông tin về tình hình thị trường khách du lịch của các nước trong khu vực và Việt Nam trong 3 tháng đầu năm. Tại lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, đại diện Tổng cục Thuế đã thông báo tình hình thực hiện thuế VAT và giải đáp ngay tại chỗ những vướng mắc của các doanh nghiệp. Các đại biểu cũng đã được nghe chuyên gia Thomas Rornhost giới thiệu về tổng quan nghiệp vụ lễ tân và tham quan hoạt động điều hành tại khách sạn Hilton Opera Hà Nội.
Đã Nẵng thông qua dự án mở các tuyến điểm du lịch tại khu du lịch Bà Nà
Ngày 31 tháng 3 năm 1999, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã phê duyệt đề án của Sở Du lịch Đà Nẵng về việc mở mới các tuyến, điểm du lịch tại khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ. Theo đó, các tuyến điểm như: Suối Mơ, thác Tóc Tiên, Am Bà, Thung lũng Vàng, thác Cầu Vồng… tại khu du lịch này sẽ được khai thác và đưa vào phục vụ vào đầu tháng 5 năm 1999. Việc thực hiện đề án mở mới các tuyến điểm tại khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ sẽ tăng thêm tính hấp dẫn của khu du lịch đặc biệt này và góp phần tăng thời gian lưu trú của khách du lịch đến với Bà Nà và Thành phố Đà Nẵng.
Đắc Lắc đón 19.852 khách du lịch, đạt doanh thu gần 8,2 tỷ đồng
Quý I năm 1999, tỉnh Đắc Lắc thực hiện doanh thu dịch vụ du lịch gần 8,2 tỷ đồng đạt 29,17% so với kế hoạch tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại du lịch thực hiện gần 6,32 tỷ đồng đạt 30% kế hoạch, bằng 125% so cùng kỳ chiếm tỷ trọng 77% doanh thu dịch vụ du lịch toàn tỉnh. Các điểm du lịch ở Buôn Đôn, Lak, thác Krông Kma (huyện Krông Bông), tác Dray Sáp (huyện Krông nô)…. Đã thu hút một lượng khách lớn đến tham quan, vui chơi trong những ngày tế. Nhờ vậy trong quý I năm 1999 tỉnh Đắc Lắc đã đón 12.852 khách du lịch với 32.642 ngày khách.
H.L – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Một đêm ở Cát Bà – Phần 2

Chỉ sợ người Hà “Lội” chê em xấu thôi! Nhìn nước da trắng, khắc hẳn nước da đậm màu nắng giá Cát Bà, tôi hỏi thăm quê quán. Hóa ra cô từ Thái Nguyên ra làm ăn mới được mấy tháng. Ra khỏi quán, anh bạn giải thích: Đây là một nghề dễ kiếm, nhưng tai tiếng. Các cô chả dám hành nghề ở nguyên quán. Nhiều cô lúc đầu chỉ kiếm lấy món tiền làm vốn rồi về nhà làm việc khác. Nhưng … rằng quen mất nết đi rồi, không nghề nào kiếm dễ như vậy. Hai nữa, đi làm ăn xa, các cô bị ăn chặn từ nhiều phía chủ nhà hàng, người dẫn mối, bảo vệ… còn được mấy mà để dành! Tôi nhớ đến đêm vừa qua, tôi đứng trên các khách sạn Công đoàn Bãi Cháy quan sát: các cô gái làm tiền lượn lờ bắt mối ký tắt với các thượng đế Hàn Quốc, Đài Loan… ở khách sạn bên cạnh. Đến đến, mỗi cô được một anh lái xe Hon đa đưa tới bờ rào phía sau khách sạn. Anh lái xe đỡ cô gái trèo qua rào, bên trong khách làng chơi đón. Xong việc, lại bằng đường ấy đi ra. Anh lái xe vừa là người bảo vệ phóng xe đưa các cô tút hút về phía Đông Triều, Hải Phòng…. Liệu cô gái còn lại được bao phần trăm? Sau những chi phí dọc đường hành nghề! Hậu quả xấu sau ánh đèn mờ kia, có lẽ chỉ ngành y tế nắm được. Đến với những người thầy thuốc, có lẽ tôi sẽ nắm được chất lượng cuộc sống thực sự của người dân đảo mà tôi hằng quý mến. Chỉ cần hai ngàn trà Hon đa ôm, tôi đã vượt mấy cái dốc đến trung tâm y tế Cát Bà. Phó giám đốc bệnh viện, bác sĩ đa khoa Đoàn Hải Linh tiếp tôi. Hóa ra bác sĩ là người thôn Áng Sỏi, còn giám đốc Trường là người xã Gia Luận, vậy là hai phần ba ban giám đốc là người của đảo đi học rồi về phục vụ lại đảo, điều tôi mong muốn từ vài chục năm trước đã thành hiện thực. Trước đây các bác sĩ đất liền ra, chỉ mong chóng trở về đất liền! Được biết tôi đi cùng chuyến ca nô với Tây Ba lô ngày qua ngày, anh Linh bảo:
Cát Bà chúng tôi được hầu hết khách nước ngoài khen hai điều: một là môi trường trong lành tuyệt vời, hai là không có trộm cắp, móc túi, trẻ con không lẵng nhẵng chạy theo xin tiền. Điều này, tôi đã chứng kiến chỉ có những em 12 đến 13 tuổi theo người lớn lái thuyền trên biển bán đủ thứ quà bánh, nước ngọt. Thuyền đón đầu ca nô, cột chặt dây vào mạn ca nô. Thế là các em thoăn thoắt trèo lên mời khách mua bằng tiếng Anh bồi ngọng líu ngọng lộ thật dễ thương. Khách nhiều khi buồn cười mà mua hàng của các em. Hẳn ở lớp, các em chú trọng học giỏi môn tiếng Anh? Nhưng liệu các em có được đi học, hay người lớn mài sử dụng các em làm dịch vụ quá sớm?
Anh Linh à! Tôi muốn biết sự không trong lành sau những dịch Karaoke, massage? Có bao nhiều người nhiễm HIV ở đảo này?
Các nữ nhân viên phục vụ các dịch vụ trên đều được chúng tôi khám nghiệm hàng tháng. Có cán bộ y tế từ Hải Phòng ra khám, chủ hàng phải chịu phí tổn. Nhưng chưa hề phát hiện ra HIV sau những lần khám. Vậy là môi trường biển ở Cát Bà vẫn còn giữ được độ trong lành. Tôi thầm nghĩ như vậy, và thấy tự hài lòng về bản thân mình. Là một khách du lịch, nhưng tôi đã phải từ bỏ một ngày thăm hang, tắm Vịnh để cung cấp cho các bạn du lịch khác những hiều biết về một Cát Bà khỏe khoắn lành mạnh hậu quả xấu của cơ chế thị trường cứ chực làm vẫn đục trời nước Cát Bà…
Vân Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Một đêm ở Cát Bà – Phần 1

Huyện đảo Cát Bà là một huyện gồm nhiều hòn đảo, nhưng dân cư tập trung ở hai hòn đảo chính là Cát Bà (đảo đá) và Cát Hải (đảo cát) vốn là hai huyện trước đây của Hải Phòng sát nhập làm một đảo. Đảo cát Hải có hai sản phẩm chính là muối và nước nắm, cảnh xóm làng chẳng khác xóm làng trong đất liền, không có gì hấp dẫn du khách nên không được chọn vào tuyến du lịch. Cát Bà đảo đá lại khác, ngoài hòn đảo trung tâm khá lớn, còn có 366 hòn đảo nhỏ châu tuần để hình thành nhiều vịnh phẳng lặng như vịnh Cát Bà, vịnh Lan Hạ, vịnh Việt Hải, nơi lý tưởng cho tàu thuyền tránh gió bão lớn. Những tảng núi đá vôi bị phong hóa với trăm hình nghìn vẻ bao hang động góp cho vùng thắng cảnh được coi là kỳ quan của thế giới, rồi vườn quốc gia Cát Bà với bao thú quý …. Trở thành nguồn thu du lịch dịch vụ không những với các công ty du lịch mà với cả người dân đảo, bước vào cơ chế mới. Chao, bẵng hơn chục năm không ra Cát Bà, giờ đảo đã biến đổi đến bất ngờ. Một vòng cung khách sạn, nhà hàng lộng lẫy bao quanh đảo. Ca nô khách cặp bến vào chiều tối, ánh sáng những ngọn đèn đường chùm 5 chùm 7 và từ các ô cửa khách sạn cao tầng lang tỏa như một đô thành huyền thoại trên biển đêm. Ngay tối hôm đó, tôi đã cùng anh bạn báo Hải Phòng đi lòng vòng thăm phố: phố chính hình vòng cung chỉ có một bên có nhà, hầu hết là khách sạn, nhà hàng. Bên kia là dẫy lan can kè đá như lan can bao quanh bờ hồ Tây Hà Nội. Máu nghề nghiệp bắt tôi phải nhanh chóng nắm bắt được cuộc sống thực của người dân đảo sau ánh sáng đèn kia. Cảng cá tàu thuyền ken dầy đặc như vậy, chả lẽ dân đánh cá Cát Bà đã đăng nhanh đến thế? Anh bạn nhà báo Hải Phòng: Cát Bà nay chỉ có một phần ba là dân đánh cá (khoảng 3 nghìn người) thôi anh ạ. Còn lại là tàu thuyền của 12 tỉnh đổ về, tận Quãng Ngãi, Bình Định cũng có tàu về đánh bắt hải sản. Ngần ấy tàu thuyền đều phải ghé cảng cá, bán cá ra và mua những nhu yếu phẩm kể cả nước ngọt. Như vậy là nguồn thu dịch vụ của bà con Cát Bà tăng lên, không chỉ nhờ kinh doanh du lịch. Cát Bà đang xây dựng lại cảng cá để sắp xếp trật tự những cư dân lưu động 12 tỉnh đổ về. Tôi không muốn đi sâu vào những con số sản lượng mà các nhà kinh tế hay quan tâm, chỉ muốn có một tầm nhìn khái quát về sự đổi mới, nên tôi lái sang vấn đề khác: Đằng sau vẻ hào nhoáng kia liệu có phát sinh những góc tối, làm hại đến sự trong lành của người dân đảo? Anh bạn hiểu ý, dẫn tôi vào một nhà hàng ánh điện các màu đang nhấp nháy. Một cô gái khoảng 20 tuổi vồn vã ra đón: Các anh uống gì để em lấy cho? Anh bạn nháy mắt với cô gái: Đây là bạn anh, vừa từ Hà Nội ra. Hôm nay anh ấy mệt, chỉ ngồi uống nước. Còn từ mai em phải chiều anh ấy nhé! Cô gái nguẩy đầu điệu đà, ra ý hiểu:
Vân Long – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

1999 Du lịch, một trong những ngành công nghiệp lớn nhất

Cho đến nay du lịch là ngành có mức độ tăng trưởng lớn nhất thế giới. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu Á cũng như Mỹ La Tinh tới ngành này như thế nào? Sự cạnh tranh ác liệt có tiếp tục dẫn tới các cuộc sát nhập lớn giữa các doanh nghiệp hay không? Ngành du lịch sẽ thay đổi như thế nào trong thế kỷ tới? Sau đây là trích trả lời phỏng vấn của ông Geoffrey Lipmann, chủ tịch tổ chức Lữ hành và du lịch Thế giới dành cho nhật báo “Thế giới” (tháng 3 năm 1999).
Năm ngoái ngành công nghiệp trên thế giới đã bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu u. Thưa ông, năm nay tình hình sẽ như thế nào?
Theo chúng tôi năm nay ngành du lịch, lữ hành sẽ đạt mức tăng trưởng 4,7%, sự đi lại của các nhà doanh nghiệp là 4,4%. Ngành kinh tế du lịch sẽ tạo nên 11,7% tổng sản phẩm xã hội của toàn thế giới và là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất thế giới….
Thưa ông, ngành du lịch sẽ vẫn cứ phát triển bất chấp sự suy thoái ở các nước công nghiệp phát triển và thị trường không ổn định ở các nước mới phát triển?
Trong ba thập niên qua ngành du lịch đã tăng gấp 3 lần bất chấp cơn sốc dầu mỏ, khủng hoảng tiền tệ và suy thoái. Tất nhiên ngành du lịch cũng chịu ảnh hưởng xấu của khủng hoảng kinh tế. Tại các nước Đông Nam Á ngành du lịch chỉ đạt mức tăng trưởng là 0,8% trong năm 1998 những năm trước đó tăng trưởng còn ở mức hai con số. Ngành này chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng nhưng phục hồi cũng khá nhanh. Hơn nữa ngành kinh tế du lịch tăng hơn từ 1 đến 2% so với nền kinh tế thế giới. Trong tương lai tình hình cũng vẫn tiếp tục như thế. Trong báo cáo gần đây nhất của ông về ngành kinh tế du lịch và lữ hành thì đến năm 2010 sẽ tạo ra được 6771 tỷ đô la Mỹ. Thưa ông, điều gì làm cho ông có thể lạc quan như vậy? Thời gian làm việc rút ngắn làm cho con người có thêm nhiều thời gian nghỉ ngơi. Người dân trên thế giới cũng sẽ giàu có hơn và có khả năng chi tiêu nhiều hơn. Con người khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn vì thế người ta cũng sẵn sàng làm những chuyến đi dài hơn vì thế người ta cũng sẵn sàng làm những chuyến đi dài hơn. Vì thế có thể thấy nhu cầu du lịch còn tiếp tục phát triển.
Điều đó có nghĩa là sẽ có thêm nhiều việc làm mới?
Theo tính toán mới nhất của chúng tôi thì nhờ phát triển lữ hành và du lịch mỗi năm trên thế giới sẽ có thêm 5,5 triệu chỗ làm việc. 8% chỗ làm việc trên toàn thế giới phụ thuộc vào lĩnh vực du lịch, trong đó một phần ba phụ thuộc vào ngành du lịch truyền thống. Phần còn lại được tạo nên ở các ngành khác nhau nhờ sự phát triển của ngành du lịch.
Thưa ông, một số hãng du lịch lớn của Đức đã hợp nhất với nhau. Liệu có tiếp tục diễn ra sự hợp nhất như thế trên thế giới không?
Sự hợp nhất trong ngành này của chúng tôi là câu trả lời đối với quá trình toàn cầu hóa. Sẽ còn diễn ra sự hợp nhất theo chiều ngang và sự hợp nhất đó sẽ vươn ra khỏi biên giới quốc gia thêm vào đó còn có sự hợp nhất theo chiều dọc. Sẽ có những người ở các lĩnh vực hoàn toàn khác nhảy vào thị trường du lịch với hy vọng đạt được mức tăng trưởng cao hơn. Thí dụ hiện nay đã có những tập đoàn bất động sản đứng ra kinh doanh các công ty khách sạn khổng lồ. Thưa ông, liệu trong ngành hàng không có tiếp tục diễn ra sự liên kết giữa các hàng không hay không?
Trong vòng bốn, năm năm tới trên thế giới cũng chỉ còn khoảng 4 đến 5 liên minh lớn của các hãng hàng không trên thế giới. Trong khi đó số hành khách đi máy bay cứ sau 10 đến 15 năm lại tăng gấp đôi….
Thưa ông khi thị trường này được củng cố thì có thay đối với người tiêu dùng?
Nếu cơ quan quản lý cạnh tranh làm tốt công việc của mình thì cạnh tranh sẽ mạnh hơn, giá sẽ giảm vì các doanh nghiệp lớn hoạt động hiệu quả hơn. Với sự liên minh, liên kết của nhiều nhà kinh doanh du lịch thì sẽ có sự phối hợp các phương tiện du lịch tốt hơn như máy bay, tàu thủy, tàu lử, khách sạn, xe ô tô cho thuê… Vì tất cả đều hoạt động dưới một sự điều hành chung…
Thưa ông ảnh hưởng của internet tới ngành du lịch như thế nào?
Rất lớn, vì các văn phòng du lịch coi như là thừa. Các chi phí môi giới sẽ không không còn nữa. Riêng ở châu u, trong mười năm tới khoảng một nửa số đăng ký du lịch sẽ được thực hiện trực tiếp thông qua Internét. Văn phòng du lịch sẽ không thể tồn tại nếu không liên kết với nhau để giành thị phần và có giá cả thích hợp. Các hãng du lịch kinh doanh theo chuyên để cũng sẽ vẫn có cơ hội tồn tại.
Thưa ông trong tương lai du lịch với người nghỉ phép sẽ tiến triển thế nào?
Khách du lịch sẽ tăng cường đi nghỉ theo sở thích các nhân. Những sản phẩm du lịch tiêu chuẩn chỉ được coi là nền tảng dựa trên cơ sở đó để bố trí theo sở thích du lịch của mỗi cá nhân. Phải thông qua Internet để tìm đối tượng của mình. Các ngân hàng cũng sẽ có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp du lịch vì thông qua thanh toán bằng thể tín dụng họ có thể nắm chắc nhu cầu của khách hàng.
Thu Trang – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Khách sạn Ninh Kiều điểm hẹn của miền tây nam bộ – Phần 2

Trong những ngày cuối năm khách sạn luôn quá tải lượng khách ở, khách ăn và nhất là tiệc cưới. Một đồng nghiệp nhận xét: khách sạn Ninh Kiều có vị trí thuận lợi nên đã đứng ngoài vòng quay của khủng hoảng. Có lẽ thành công của họ không hẳn chỉ dựa vào địa lợi mà như lời thiếu tá Phan Văn Hò thì khách sạn luôn đặt nhân hòa trước thiên thời, địa lợi, tức là phải chăm lo phục vụ và giúp đỡ khách từ những yêu cầu nhỏ nhất để khi ở trong khách sạn họ cảm thấy thân thiện như ở nhà. Trong số trực của khách sạn tôi thấy có rất nhiều trường hợp nhân viên nhặt được đồ bỏ quên đã trả lại khách: Như trả lại bóp có 3 lượng vàng cho anh Lâm Quang ở Tiền Giang ngày 9 tháng 3 năm 1997, trả lại máy quay phim cho ông Ngo Nghĩa Mike (Việt Kiều Mỹ) ngày 15 tháng 12 năm 1997, trả lại dây chuyền 1 lượng vàng cho anh Trịnh Kiếm Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh… có lẽ chính suy nghĩ của lãnh đạo được cụ thể hóa bằng hành động của nhân viên thuộc quyền, mới là yếu tố chính quyết định thành công cho khách sạn Ninh Kiều trong kinh doanh du lịch.
Tầm nhìn của một giám đốc giỏi
Có lẽ của đơn vị mình nên giám đốc Phan Văn Hò (Mười hồ) đã hoạch định những bước đi thích hợp. Đó là thời kỳ đầu anh chú trọng mạnh vào khách trong nước, để vừa kinh doanh, vừa học hỏi nghiệp vụ, và dần cải tiến cơ sở vật chất. Tâm lý nhiều khách hàng vẫn ngại các khách sạn của bộ đôi phục vụ cứng nhắc, thủ tục phiền hà, quân sự mà…. Nhưng chỉ một thời gian ngắn khách đã quen, hài lòng về giá cả và chất lượng phục vụ để khách sạn Ninh Kiều có thể đón không những khách trong nước mà cả khách nước ngoài. Năm 1996, khách sạn Ninh Kiều tiếp tục đầu tư xây dựng nhà hàng bên bờ sông, để phục vụ khách đặt ăn và nhất là các loại tiệc. Với địa thế tuyệt vời, chất lượng phục vụ tốt và giá cả hợp lý họ lại thắng lớn. Năm 1998 khách sạn Ninh Kiều liên kết với công ty Proshipser mở thêm dịch vụ tàu cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ, sử dụng cầu tàu của căn cứ Hải quân cũ, làm cho các dịch vụ của khách sạn Ninh Kiều đa dạng hơn và thu hút ngày càng đông khách. Có thể nói tầm nhìn chiến lược và những kế hoạch cụ thể của giám đốc Phan Văn Hò đã góp phần vào sự thành công của khách sạn Ninh Kiều. Theo dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (OMT) thì các chương trình du lịch liên tuyến trên sông Mê Kông nối với các quốc gia láng giềng sẽ là một trong 2 tuyến điểm thu hút khách nhất của Việt Nam trong tương lai. Dự báo đó có thể trở thành hiện thực trong những năm đầu thế kỷ 21, sẽ là điều kiện thuận lợi để giám đốc Phan Văn Ho triển khai những toàn tỉnh của mình.
Về bên Ninh Kiều
Một cựu binh Mỹ trở lại căn cứ Hải Quân cũ năm nào, bồi hồi đứng nhìn cảnh sông nước Hậu Giang với chiếc tàu cao tốc rẽ sóng, đã nói với hướng dẫn viên du lịch rằng: “Ngày xưa những chiếc tàu của chúng tôi xuất phát từ đây chỉ làm tăng thêm sự chia ly, mất mát. Còn nay tàu của các bạn ra đi là để đem lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người”. Vâng, hẳn là vị khách kia đã nói đúng, vì bến Ninh Kiều ngày nay đã trở thành điểm hẹn của du khách xa gần đến với mảnh đất Tây Đô. Trên bến sông này, khách sạn Ninh Kiều đã trở thành một điểm sáng của ngành du lịch miền đồng bằng sông nước Cửu Long.
Phan Huê – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.