Đôi đũa kim giao

Không biết các nhà thực vật xếp cây Kim Giao vào họ, chi nào và tên khoa học của nó là gì, nhưng khi người ta bắt nó sống trong chậu cảnh thì trông rất giống như cây võ lát mọc trong vườn ươm. Có khác chăng là ở chỗ Kim Giao lá dài và đậm màu lục diệp. Sống trong tự nhiên, Kim Giao mọc thành rừng thưa ở những kẻ trên đỉnh núi đá vôi của 2 vườn quốc gia: Cúc Phương và Cát Bà, và nước ta cũng chỉ có 2 địa danh du lịch đó mới có cây Kim Giao.

Đọc tiếp Đôi đũa kim giao

Khu vườn hiện thực nam cao

Điểm tham quan, du lịch kỳ thú trong tương lai

Có lẽ không ai trong chúng ta lại không biết đến tên tuổi nhà văn Nam Cao với những tác phẩm văn học lừng danh: “Chí Phèo”, “Đôi mắt”, “Sống mòn”, “Lão Hạc”… Nam cao thuộc vào lớp nhà văn hiện thực xuất sắc, sớm giác ngộ cách mạng, tham gia Hội Văn nghệ cứu quốc do Đảng lãnh đạo.Ông đã từng có mặt trong đoàn quân Nam tiến rồi chiến dịch biên giới. Tháng 11/1951 – Nam Cao bị địch bắt rồi sát hại trong chuyến đi công tác vùng địch hậu thuộc Liên khu 3. Trải qua năm tháng chiến tranh với 3 lần di chuyển mộ, hài cốt nhà văn – liệt sỹ Nam Cao bị thất lạc trong số hàng trăm mộ liệt sỹ vô danh ở nghĩa trang Gia Viễn (Ninh Bình). Năm 1996, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày Nam Cao hy sinh – Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam – Hội Nhà Văn – Báo Nhân dân – Tỉnh Hà Nam… đã phối hợp cùng 30 cơ quan, ban ngành đã tổ chức chương trình “Tìm lại Nam Cao”. Qua hơn một năm thu thập tư liệu, xác minh lại hiện trường và dựa vào gia đình, bạn bè, đồng đội cũ của nhà văn – liệt sỹ, hài cốt nhà văn – liệt sỹ Nam Cao đã trở về với người thân của mình trong nỗi xúc động vô hạn. Ngày 18/1/1998 lễ bàn giao hài cốt liệt sỹ đã được thực hiện trọng thể tại tỉnh Hà Nam, quê hương ông. Sau lễ tiếp nhận, hài cốt Nam Cao được đưa về an táng tại “Khu vườn thực hiện” tưởng niệm ông ở xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân. Theo thiết kế phác thảo, “Khu vườn hiện thực” Nam Cao rộng trên 4000 m2 sẽ được hình thành, hoàn chỉnh với trung tâm là mộ chi nhà văn. Xung quanh có vườn chuối, giàn trầu của gia đình “Thầy giáo Thứ”, có “Lão Hạc”, “Chí Phèo”, “Thị Nở”, “Bá Kiến”… được thể hiện bằng tượng hình của các nghệ sỹ tài năng từ Nam ra Bắc. Như vậy trong tương lai, “Khu vườn hiện thực Nam Cao” sẽ trở thành địa điểm hành hương văn hóa – du lịch để các thế hệ hôm nay và mai sau có dịp “Về với Nam Cao” ngưỡng mộ một tài năng mà sức sống những tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại mãi.Tuy nhiên, cũng nên lưu ý tránh sự sao chép lẫn nhau hoặc sao chép từ các mô típ của nước ngoài. Sắc phục bảo vệ khách sạn cũng là những ấn tượng ban đầu và mang phần nào tính đặc trưng của khách sạn đó, do tránh những sự cầu kỳ hoặc diêm dúa một cách không cần thiết hay sự phô trương thái quá. Cũng nên chăng, sắc phục các khách sạn ở thủ đô Hà Nội tạo được nét riêng, biểu hiện được vẻ lịch lãm, trang nhã của Hà Nội.

Đọc tiếp Khu vườn hiện thực nam cao

Chiến sĩ tình báo

Năm 1996 bà xuất bản “Tuyệt Mật” kết hợp với văn phòng báo chí cơ quan tình báo đối ngoại Nga vừa cho xuất bản cuốn hướng dẫn du lịch có nhan đề: “Hướng dẫn của K.G.B về các thành phố nổi tiếng thế giới”. Sau khi phát hành, cuốn sách lập tức thu hút sự chú ý của đông đảo du khách đến thăm đất nước Nga rộng lớn. Thông qua cuốn sách người ta có thể hiểu rõ nhiều thành phố du lịch hấp dẫn, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, món ăn truyền thống… Ai bảo các chiến sỹ hoạt động tình báo là khô khan, cứng nhắc như… khúc gỗ nào? Đặc biệt nổi bật trong số đồng tác giả cuốn sách lý thú này là nhà tình báo nổi tiếng, chưa từng bao giờ xuất hiện trước công chúng: Olếc – Brukin, đại tá K.G.B từng làm việc dưới vỏ bọc nhân viên Liên hợp quốc ở New Yooc. Ngoài Olếc – Brukin còn có nhà văn Mikhain Luminop tình báo Xô Viết hoạt động ở Lon Don, Leoni Kosolop, tình báo viên hoạt động ở Roma dưới mái nhà Tổ phóng viên báo “Tia lửa” thường trụ. Cuối cùng là Lep Bausin, Paven Epremop, Vasili Timophiep hoạt động ở Cairo, Mexico, Bangkok…

Đọc tiếp Chiến sĩ tình báo

Đường nét hoa văn trên áo gile cải tiến

Phát huy nghề dệt truyền thống của dân tộc mình, nghệ nhân Bạc Thị Mỹ ở bản Chiềng Khoang, thị trấn Tuần Giáo đã dệt đường nét hoa văn trên áo gi lê cải tiến. Các đường nét hoa văn được làm theo ý thích của khách hàng, mẫu hoa văn cũng do khách tự do. Tổng thể một hình hoa văn là hình con bướm, bên trong hình con bướm có các hình thoi, hình hoa thị, hình quả núi. Hoặc có thể dệt theo mẫu hình “Khau cút” là biểu tượng của tình yêu nam nữ dân tộc Thái.

Đọc tiếp Đường nét hoa văn trên áo gile cải tiến

Máy bán hàng tự động ở nhật bản

Lần đầu tiên đặt chân đến Tokyo, tôi thực sự ngạc nhiên tự hỏi tại sao ở đây lại lắm máy bán hàng như thế. Và người ta giả thích cho tôi rằng cả nước có đến 400 triệu chiếc máy làm nhiệm vụ  bán nước ngọt, bia, thuốc lá, bán vé tàu hỏa, tàu điện ngầm và nhiều thứ khác nữa. Mà những máy này hoạt động không nghỉ, suốt ngày đêm. Máy bán hàng đã trở thành một phần không thể thiếu được trong sinh hoạt hàng ngày của Người Nhật đến nỗi người ta không thể hình dung cuộc đời sẽ ra sao nếu thiếu vắng nó. Những chiếc máy bán hàng tự động đã mang về một năm chừng 60 tỷ đô la tiền bán sản phẩm, một khối lượng lớn mà chưa nước nào mơ tưởng đến. Chiếc máy bán hàng đầu tiên ở Nhật Bản xuất hiện năm 1888. Từ ngày đó đến nay người Nhật đã sáng tạo ra nhiều kiểu máy. Những chiếc máy đầu tiên được dùng tại các nhà ga, các trạm bưu điện đã bán vé, bán tem. Tuy nhiên, phải đợi đến thập kỷ 60 công nghệ tiên tiến của Mỹ đã du nhập vào Nhật, Olimpic Tokyo năm 1960 và hội chợ quốc tế Osaka năm 1970 tạo những đòi hỏi lớn thúc đẩy việc sử dụng máy tự động để bán nước giải khát. Việc đưa những đồng tiền xu loại 50 và 100 yên đã khích lệ thêm sự hoạt động của máy tự động. Người ta dự tính mỗi người Nhật hàng năm đã bỏ vào máy tự động 400 đô la. Có người không ngần ngại một lúc bỏ ra 50 đô la mua một sản phẩm bán ra từ máy. Ô dù, thuốc men, đồng hồ, máy ảnh quần áo, cà vạt, rau quả… danh mục hàng bán từ máy cứ dài dằng dặc. Tại sao người Nhật lại ưu ái đến máy tự động bán hàng đến thế? Có 3 nguyên nhân chính. Thứ nhất khi  mua bán các thứ hàng thông thường, người Nhật không muốn tiếp xúc với người bán. Nếu muốn mua một bao thuốc lá, ở ngoài cửa hàng có đặt máy thì khuynh hướng chung chọn phương án bỏ tiền vào máy. Lý do thứ hai gắn với kiểu sinh hoạt của người Nhật. Họ làm việc chăm chỉ, có lịch trình định sẵn, chặt chẽ đúng giờ, quá bận rộn đến nỗi tìm mọi cách để tiết kiệm thời gian bất kể lúc nào có thể được. Theo họ, phải đứng trước quầy hàng yêu cầu một lon bia thì thật phí thì giờ. Lý do thứ ba khiến máy bán hàng tự động được ưa chuộng là vì độ tin cậy. Hiếm khi xảy ra tình trạng máy trục trặc. Ít có nguy cơ bỏ tiền vào mà máy không đụng hàng ra.

Hỏi ông quản lý thị trường?

Trên quốc lộ số II, đoạn đi qua địa phận huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) có rất nhiều sạp bán dưa hấu. Khách qua đường thấy mừng bởi thứ quả quý trước kia chỉ có ở miền Trung và Nam Bộ; thì nay đã đơm hoa kết trái trên đồng đất miền Bắc, do đó rất nhiều người ghé mua một vài quả dưa làm quả.

Đọc tiếp Hỏi ông quản lý thị trường?

Du lịch quế lâm

Chúng tôi đến Quế Lâm theo chương trình khảo sát các tuyến điểm trọng tâm du lịch của Trung Quốc. Mới đặt chân đến Quế Lâm, chúng tôi đã thấy không khí tấp nập của một thành phố du lịch với lượng khách nước ngoài đi lại vào ra nhộn nhịp trên đường phố, trong các siêu thị, nhà hàng… Tuy thời gian này không phải mùa du lịch chính của Quế Lâm nhưng các khách sạn vẫn chật cứng khách, khiến chúng tôi đành phải ở tạm trong một khách sạn nhỏ ở vùng ven thành phố sau khi gõ cửa tới 3 khách sạn đều bị từ chối vì không còn chỗ nữa. Quế Lâm là một địa danh du lịch nổi tiếng của Trung Quốc nằm ở phía bắc Tỉnh Quãng Tây, cách thành phố Nam  Ninh 440 km. Quế Lâm có các tuyến đường sắt, đường bộ cao tốc thuận tiện. Với diện tích là 54 km2, dân số 280 nghìn người trong đó trên 40% dân số sống bằng nghề kinh doanh phục vụ du lịch, 20% sống bằng nghề bào chế, và buôn bán thuốc thú y học dân tộc, Quế Lâm được thiên nhiên ưu đãi cho những sản phẩm du lịch độc đáo, với tài nguyên du lịch phong phú, hàng năm Quế Lâm đón trên 3 triệu lượt khách du lịch. Tài nguyên du lịch của Quế Lâm được người Trung Quốc tóm tắt trong 9 chữ “ Ba hòn núi, một con sông, hai hang động”. Ba hòn núi: Núi vòi voi, Phục ba sơn, Chùng Bắc Sơn; một con sông: Ly giang; Hai hang động: Thất Tinh Nham, và Lô Địch Nham. Tất cả những địa danh đó đã tạo cho Quế Lâm một quần thể du lịch thiên nhiên đa dạng phong phú và có sức hút mạnh mẽ đối với khách tham quan – Điều khiến người Trung Quốc rất tự hào, họ cho rằng: “Quế Lâm sơn thủy giáp thiên hạ” ( Non nước Quế Lâm

Đọc tiếp Du lịch quế lâm

Cuộc nói chuyện của 2 người đàn ông

Jeam nói với tôi:

Tôi và ông bước vào nghề khách sạn giống nhau quá, tôi cũng vậy, tôi chưa từng biết kinh doanh khách sạn, cho đến một hôm có một người bạn rủ tôi đến chơi ở một khách sạn, tôi được người chủ khách sạn tiếp đãi và rồi trong câu chuyện vui, ông ta mời tôi đến nhận 1 công việc là làm thư ký giám đốc, tôi đánh bạo làm thử, cho đến năm 1985 ông chủ qua đời, giao lại khách sạn cho tôi quản lý, tôi tiếp tục làm thuê cho tập đoàn I.O.A cho đến hôm nay, tôi đã sang Việt Nam nhiều lần và đều ở khách sạn của ông.

Đọc tiếp Cuộc nói chuyện của 2 người đàn ông

Những điều trăn trở về du lịch ninh bình

Sau khi tái lập tỉnh Ninh Bình, ngành Du lịch ra đời đã được giao quản lý, tu bổ và khai thác các di tích lịch sử và danh thắng thiên nhiên để phục vụ du khách, đồng thời tăng thu nhập cho xã hội, cho nhân dân. Ngành du lịch đã hình thành các Công ty lữ hành, Công ty khách sạn với nhiều phương hướng, giải pháp để thu hút du khách. Đã chú trọng tuyên truyền quảng cáo, hội thảo, triễn lãm tiến hành các công tác tiếp thị và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch để thu hút khách. Lượng khách đến du lịch tham quan Ninh Bình ngày một tăng. Năm 1995 có 72.000 lượt khách, năm 1996 có 199.700 lượt khách tăng 10 % ( trong đó có 62.000 lượt khách quốc tế). Khách đến tham quan Tam Cốc Bích Động quanh năm, chiếm 2/3 lượt khách đến Ninh Bình, có ngày lên đến hơn 1000 lượt khách. Và năm 1997, ngành Du lịch Ninh Bình dự kiến đón hơn 334 ngàn lượt khách, trong đó khách quốc tế là hơn 75 ngàn. Tất cả đều vượt kế hoạch đặt ra. Lượng khách đến Ninh Bình tăng dần hàng năm đã khẳng định các hoạt động Du lịch ở Ninh Bình đang trên đà phát triển. Song vì nhiều lý do, đầu năm 1997 tỉnh đã ra quyết định chuyển việc khai thác các điểm di tích lịch sử, văn hóa như đền Đinh Lê về ngành Văn hóa, ngành Du lịch chỉ còn thu phí bãi biển. Trước đây, Vườn quốc gia Cúc Phương do ngành Lâm nghiệp quản lý. Nhờ thờ đá Phát Diệm lại do Tôn giáo quản lý. Vì thế đã gây nhiều khó khăn cho việc quản lý và khai thác tiềm năng du lịch đối với các di tích, lịch sử và danh thắng của Ninh Bình. Ngoài ra, ngành Du lịch còn non trẻ, kinh phí còn eo hẹp thiếu vốn, thiếu cơ sở hấp dẫn để gọi vốn đầu tư, để tôn tạo các di tích lịch sử, xây dựng bến bãi, xây dựng khu nghỉ ngơi, khơi thông đường lạch, (dòng sông vào Tam Cốc quá hẹp và nông, lại phải tăng bo qua 2 đập, gặp nhiều trở ngại vất vả cho du khách. Mặt khác do thiếu sự phố hợp chặt chẽ giữa các ngành nên chưa đủ sức quản lý các điểm du lịch, vẫn còn hiện tượng ăn xin chèo kéo mua bán, gây phiền toái cho khách. Nhưng dù sao các di tích và danh thắng do ngành Du lịch khai thác sẽ tạo điều kiện để ngành Du lịch chủ động  gọi vốn đầu tư, tiến hành công tác quảng bá, giới thiệu các di tích danh thắng, thu hút nhiều khách về (vì có bộ phận lữ hành chuyên làm việc này).