Đêm hội Sông Hồng – Phần 2

Trông thấy bác sĩ Thẩm (Chi Bảo đóng), Hạnh ôm chầm, ánh mắt cô điên dại khi ngỡ Thẩm là Hàn Mạc Tử. Ánh mắt của Thu Ngân cho vai Hạnh thật dữ dội, tóe lửa. Ánh mắt ấy đã tháo tung cái mặc cảm bị gia đình bỏ rơi mà câu chuyện phim quy định.
Thu Ngân hiện trường đoạn này mãnh liệt đến mức bất ngờ so với diễn tiến của mạch phim trước đó. Ngay cả ở đoạn trường mà người xem đều đoán được những gì sẽ diễn ra. Thu Ngân đã tạo ra một sự xúc động tinh khôi, bứt khỏi những tình huống quen thuộc trên phim. Thật khó giải thích về trường Ngân lần đầu tiên diễn phim. Phải chăng đó là bản năng diễn xuất đáng quý như có người đã nhận xét.
Bộ phim dài 13 tập mỗi tập 30 phút, Phan Thu Ngân xuất hiện được nữa phim. Lần đầu tiên đến cuộc chơi điện ảnh, cô đã tạo được ấn tượng mạnh. Đến nỗi đạo diễn bộ phim trong một lần trò chuyện đã phải tiếc “Giá như cho Thu Ngân đón luôn vai Thủy” bởi hình ảnh của Hạnh đã đứt đoạn, trong khi đó vai thủy cũng có sức bùng nổ bên trong, luôn khao khát được năm lấy tương lai trong vòng tay mình.
Nhà hàng dân tộc đậm nét văn hóa Việt Nam.
Sau ba năm mở cửa hàng Hải sản Sầm Sơn ở 77 Dốc Bác Cổ Hà Nội, Hợp tác xã sông hồng lại đầu tư với số vốn trên 3 tỷ đồng để mở một nhà hàng dân tộc với các món ăn truyền thống đậm nét văn hóa của Việt Nam. Chủ nhiệm nhà hàng dân tộc cũng chính là chủ nhiệm HTX Sông Hồng 0 ông Trương Hữu Thắng người đã đi nhiều nước và gặp gỡ nhiều doanh nghiệp nhà hàng ăn uống trên thế giới, nên có nhiều kinh nghiệm về tổ chức quản lý nhà hàng.
Tại nhà hàng dân tộc có nhà Thuỷ Đình Đỏ, có sân khấu nhỏ mang nét truyền thống Việt Nam, sẵn sang phục vụ khách hàng với các vở quan họ, múa, hát ru…
Ngoài rat rang trí nội thất mang nét văn hoá Việt Nam (đồng bằng Bắc Bộ) nhà hàng dân tộc còn mời đầu bếp có tiếng đã học ở Hồng Kông ông Diệp Chấn Thường để phục vụ khách với 2 món ăn vịt quay và heo sữa quay.
Ngoài ra nhà hàng dân tộc còn có các món ăn Anh Vũ, cá Song hoa, tôm hùm, tôm sú, ốc hương, đặc sản biển của đồng bào Bắc bộ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Sắp tới du khách hành hương về Bác sẽ thuận lợi hơn.
Theo sở thông tin ban an toàn giao thông vận tải Nghệ An, Bộ giao thông vận tải đã phê diệt dự án mở rộng tuyến đường về quê bác:
Tuyến Vinh – Kim Liên – Nam Đàn dài 22 km thuộc quốc lộ 46, trong đó Vinh – Cầu Mượu nâng cấp thành đường hai chiều mỗi làn 7 m, đoạn cầu Mượu – Nma Đàn rộng 11m
Tuyến cửa khẩu Thanh Thủy về thị trấn Nam Đàn có độ dài 36 km, rộng 7 m.
Dự án của Bộ GTVT về việc nâng cấp 2 tuyến đường đến Nam Đàn sẽ được thi công trong năm 2001 – 2002, với số vốn đầu tư là 140 tỷ đồng. Việc mở rộng nâng cấp hai tuyến đường trên sẽ tạo điều kiện cho khách du lịch và nhân dân khi hành hương về thăm quê Bác.
Thuận lợi hơn, đồng thời giúp cho việc phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa tỉnh Nghệ An với tỉnh Lào cũng như các nứơc trong khu vực.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Đêm hội Sông hồng – Phần 1

Thoáng thư giãn cần thiết cho du khách.
Sau những giờ phút lao động căng thẳng và muốn thoát khỏi tiếng ồn ào, không khí bụi bặm của cuộc sống đô thị, chúng tôi được Xí nghiệp vận tải hành khách và Dịch vụ Du lịch thuộc Công ty Vận tải tàu thủy Hà Nội mời tham dự chương trình “Đêm hội sông Hồng” một chương trình mới nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, chào mừng đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và những ngày lễ kỷ niệm 30/4 – 1/5.
Chương trình “Đêm hội sông Hồng” đã được xí nghiệp chuẩn bị từ sau tết m lịch. Ngay từ ngày này, Xí nghiệp đã khảo sát luồng lạch, chọn được luồng chạy tàu và nơi dừng tàu có những khung cảnh đẹp, vừa đảm bảo độ an toàn cho du khách. Chương trình được tổ chức trong hai đêm 28/4 và 1/5 đã thu hút được sự chú ý của của nhiều du khách. Con tàu Thăng Long với sức chứa 150 người đã đón chân du khách xuống tàu với những bản nhạc du dương như: Cửu thủy kim tuyền, Xuân phong long hổ, Làng tôi… Từ giữa dòng sông, nhìn vào thành phố Hà Nội, nơi có những ánh đền điện lung linh như các vì sao tỏa ra từ những nhà cao tầng cao thấp và các khách sạn lớn như Meritus West Lake, Tháp Hà Nội, Sofitel Metropole…, du khách trên tàu như đang lạc vào cõi mơ. Trên tàu tiệc ngọt được dọn ra. Trong không khí trong lành, mát rượi của sông Hồng về đêm, khách vừa dự tiệc, vừa được thưởng thức những làn điệu dân ca quan họ nổi tiếng: Mời trầu, ngồi tựa nan thuyền, cò lả… của các nghệ sĩ chuyên nghiệp: Xuân Ba, Tú Hiền, Thanh Vân… với cảm giác thân mật gần gũi. Sau buổi tiệc, du khách được thả đèn hoa đăng cầu may trên sông Hồng và kết thúc chương trình trong lời ca đã bạn thân thiết.
Điểm mạnh của chương trình du lịch “Đêm hội sông Hồng” chính là sự phối hợp nhịp nhàng giữa những người tổ chức. Xí nghiệp vận tải Hành khách và dịch vụ du lịch cung cấp dịch vụ vẫn chuyển tốt nhất với đội tàu du lịch an toàn tiện nghi, thuyền trưởng và đoàn thủy thủ nhiệt tình và giàu kinh nghiệm, hướng dẫn viên đón tiếp thân mật, chu đáo. Họ thực sự là hình ảnh thu nhỏ nét duyên dáng và hiếu khách của người Tràng An – Hà Nội. Ngoài ra, Ban nhạc Trăng Tây Hồ phụ trách ca nhạc dân tộc với sự tư vấn của công ty Du lịch Quảng Bình tại Hà Nội đã làm cho chương trình có phần sinh động.
Chương trình “Đêm hội sông Hồng” thực sự là một sự đổi gió hợp lý cho người Hà Nội và khách du lịch khi đến đây.
Nếu tour du lịch một ngày trên sông Hồng đã để lại những ấn tượng khó quên trong lòng du khách với làng cổ Bát Tràng, chùa Bút Tháp, đền Chử Đồng Tử… thì có lẽ Đêm hội sông Hồng cũng không kém phần hấp dẫn. Hy vọng rằng, chương trình đêm hội sông Hồng sẽ được tổ chức thường xuyên hơn, chứ không chỉ vào tối thứ bảy như hiện nay.
Phan Thu Ngân với bến Sóc Trăng.
Bộ phim “Bến Sóc Trăng” kể về một cô sinh viên khoa chẳng may mắc phải bệnh phong, phải chịu cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài trong một trại phong, và sau đó ngỡ đã vô vọng tột cùng lại xảy ra một phép màu tình yêu giữa nữ bệnh nhân với bác sĩ trại.
Với tính cách nhân vật và rất nhiều những xung đột tâm lý như vậy, đạo diễn Đỗ Phú Hải đã mạo hiểm giao vai chính cho một diễn viên còn mới toan đó là Phan Thu Ngan, đương kim hoa hậu Việt Nam. Những chính sự mạo hiểm đó lại là một phát hiện : Ngân không chỉ có nhan sắc mà còn cả về tiềm lực diễn xuất. Thật vậy, nội lực về diễn xuất, nhất là ở đôi mắt của Thu Ngân rất đặc biệt. Như ở trường đoạn nhân vật Hạnh của Thu Ngân trong trạng thái hoảng loạn, lang thang ngoài nghĩa trang với đêm tối dày đặc. Hạnh khóc than bên cạnh mộ Hàn Mạc Tử.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Hồn cồng chiêng từ chiếc búa chỉnh âm

Nghệ nhân cúi đầu, mái tóc dài rũ xuống trùm che khuôn mặt Bah Nar dãi dầu nắng gió. Miệng lẩm nhẩm, hình như ông gọi: “Thức dậy đi cồng chiêng ơi!”. Cùng lúc, chiếc búa con trong tay ông khẽ vung lên. Chỉ một động tác gõ nhẹ, chiếc chiêng trước đó câm lặng, trơ ra bỗng rền vang, lan tỏa, khiến chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, thán phục…
Cồng chiêng (chinh) từ lâu được đánh giá là một thứ nhạc cụ độc đáo góp phần tạo nên bản sắc văn hóa trong đời sống tinh thần của đồng bào Tây Nguyên. Nó không thể thiếu được trong những dịp sinh hoạt hội hè, tế lễ.
Nhưng suốt một thời gian dài, hình như cả giới nghiên cứu chỉ quan tâm chú ý đến âm nhạc cồng chiêng mà ít lưu tâm đến người làm ra và đặc biệt là người “làm ra tiếng” hay nói cách khác là người điều chỉnh âm thanh cồng chiêng. Chinh chiêng lúc mới làm ra không có tiếng (hay có thì cũng không đúng âm luật quy định). Theo những người am tường trong lĩnh vực này thì hiện nay số nghệ nhân “thạo nghề” chỉnh âm cồng chiêng cả tỉnh Gia Lai chỉ đếm trên đầu ngón tay. Và nghệ nhân Đinh Tik là một trong số quý hiếm đó. “Thổ địa” giúp chúng tôi tìm đến nghệ nhân là các nghệ sĩ ở đoàn nghệ thuật Đam San. Đoàn hiện có một dàn cồng chiêng cải tiến 27 chiếc. Nghệ sĩ Đức Hà mang tiết mục độc tấu đàn chiêng này đi khắp nơi, sang cả trời Tây xa xôi rồi mang về không ít huy chương vàng, bạc. Nhưng theo thời gian và sự tác động của vật chất, âm thanh của những tiếng cồng ấy có lúc không còn giữ nguyên âm sắc cũng như sự âm vang huyền nhiệm vốn có. Mà chỉ một chiếc chiêng “xuống cấp” như thế cũng đủ làm tiết mục biểu diễn thất bại. Khắc phục thì phải chỉnh âm. “Chơi” được cồng chiêng thì đoàn không thiếu người nhưng điều chỉnh âm thanh của nó, “lên dây” cho nó thì chẳng ai làm được. Sau nhiều lần mày mò tìm kiếm, nghệ sĩ Huỳnh Hạnh mừng còn hơn được của của khi tìm ra tung tích nghệ nhân Đinh Tik. Và kể từ đó, hàng năm anh Hạnh đều xuống làng Gioi đưa nghệ nhân Đinh Tik lên “sửa” tiếng chiêng cho Đoàn. Cứ theo cách đánh giá của anh em nghệ sĩ đoàn Đam San thì Đinh Tik là nghệ nhân có khả năng chỉnh âm cồng chiêng tốt nhất chẳng riêng của địa phương Gia Lai hiện nay.
Đinh Tik, người dân tộc Bah Nar làng Gioi xã Gla huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai. Năm nay ông đã trên 60 tuổi, học kỹ thuật chỉnh âm cồng chiêng lúc 10 tuổi. Tính đến Đinh Tik thì nghề này truyền được 5 đời. Mỗi đời chỉ một người. Muốn điều chỉnh được âm thanh cồng chiêng thành công, trước tiên phải là người hiểu biết về nó, Đinh Tik cả quyết như thế. Chẳng những thế, ông còn là nghệ nhân chơi thuần thục nhiều bài chiêng cổ, giai điệu phức tạp đòi hỏi kỹ thuật xử lý cao tay. Nhưng còn một điều cũng rất quan trọng không phải chỉ là chuyện học hành. “A Luông nó cùng học với tao nhưng đâu thành nghề được”. – Đinh Tik nói. Phải có lỗ tai thẩm âm tốt. Đây như một năng lực đặc biệt, là sự “nghe được” của đôi tay, sự nhạy cảm của đôi tay. Chin chiêng lúc mới làm ra âm thanh không rõ, to; cao độ, trường độ lại càng không. Khi ấy, nó chỉ như cục đá, không hơn không kém.
Khi tiến hành chỉnh âm cồng chiêng, nghệ nhân phải tuân thủ theo những thủ tục, nghi lễ nhất định. Ngoài việc hàng năm nghệ nhân phải làm lễ cúng tổ tiên truyền nghề thì khi tiến hành điều chỉnh âm thanh một bộ cồng chiêng cụ thể cũng phải làm lễ cúng. Lễ vật đơn giản gồm một con gà, ghè rượu. Sau khi tổ chức cúng lễ xong, nghệ nhân mới bắt tay vào việc. Dụng cụ “lên” tiếng cồng chiêng gồm có 3 chiếc búa lớn, hai đầu thuôn dài nên thoạt trông thấy lạ; kể đến là 2 mũi de (mũi đục), một con dao nạo, một khúc gỗ làm đòn kê và một hòn đá tròn dẹt dùng làm đe. Khắp vùng Mang Yang, A uyn pa, Chư pah, An Khê, Đức Cơ… gần như ai cũng biết tiếng ông. “Cái chân này nó đau cũng vì đi nhiều như thế, giúp nhiều như thế” – Đinh Tik chợt than thở.
Khó như vậy chắc là phải có bí quyết gì? – Tôi ý tứ thăm dò.
Chẳng có gì sất. Tao chẳng đã cho mày xem dụng cụ, cách chỉnh âm thử là gì? – Đinh Tik trả lời bằng một câu hỏi ngược lại.
Đã khi nào ông nghĩ đến việc truyền nghề chưa? Không lẽ sau ông vùng này chẳng còn ai? – Tôi hỏi.
Đinh Tik cười cười:
Có nghĩ đến. Nhưng phải có người chuyên tâm chịu học. Tao có 5 thằng con trai nhưng chưa thấy đứa nào say sưa nghề của cha cả. Mà khi đã chịu học nhưng không có khả năng trời phú thì cũng chịu thôi. Khả năng đó chẳng ai cho, ai giúp mình cả. Thằng Hạnh thích lắm, có thể học được những bận bịu miết, lâu lâu mới thấy đến thăm.
Huỳnh Hạnh là người gần gũi nghệ nhân Đinh Tik, theo dõi quá trình ông điều chỉnh âm thanh công chiêng. Học theo nghệ nhân, đôi lúc anh cũng gõ gõ, búa búa tìm cách chỉnh âm nhưng vẫn chưa “ra môn ra khoai” gì. “Khó lắm!” – Anh thú nhận.
Nhưng điều mà nghệ nhân buồn nhất, lo nhất – chúng ta cũng vậy – là hiện nay, dưới nhiều ảnh hưởng, tác động, trong đó có tôn giáo, nhất là đạo Tin Lành, nhiều vùng đã không còn nhà rông, rượu cần, cồng chiêng. Vùng Gla Đinh Tik thì càng lo hơn. Vắng tiếng cồng chiêng quá! Không đoán chắc điều gì nhưng trong câu chuyện, đôi lúc tôi như đọc được nỗi buồn sâu kín mà không ít thấm thía, xót đau đó của ông. Quá khứ. Vâng, đâu ít người như ông – bất lực, thổn thức, đau đáu hoài vọng về một thời xa xưa đẹp đẽ, rộn ràng tiếng chiêng ngân trên khắp làng buôn, rừng núi quê hương mình.
… Gia Lai đang chuẩn bị cho một liên hoan nghệ thuật cồng chiêng khu vực và nghe đâu trong một ngày không xa lại là nơi diễn ra một liên hoan cồng chiêng tầm cỡ Đông Nam Á khác.
Thất Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Điểm đến du lịch

Thái Nguyên – điểm đến du lịch tiềm tàng của thế kỷ 21, Thái Nguyên có nhiều cảnh quan thiên nhiên nhiều đa dạng, hệ sinh thái động thực vật phong phú, sông, hồ, hang động đẹp. Thái Nguyên với nhiều đồi núi điệp trùng, quanh năm xanh tốt với những rừng cọ, đồi chè, thảm cỏ, nương ngô xen lẫn những bản làng dân tộc bên lũy tre tạo nên nét đẹp của tỉnh miền núi Thái Nguyên . Theo thống kê Thái Nguyên có trên 100 di tích được xếp hạng, đặc biệt là an toàn khu ở huyện Định Hòa, là nơi Bác Hồ và Chính phủ lãnh đạo cuộc cách mạng thành công… Đến Đưởm – nơi thờ Dương Tự Minh, một vị anh hùng dân tộc… Ngay tại thành phố Thái Nguyên, có bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam – nơi có nhiều đến chùa, miếu mạo nổi tiếng và được xếp hạng di tích quốc gia: chùa Phủ Liễn, chùa Đồng Mở, đền Ông, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn, chùa Túc Duyên.
Với hệ thống hang động phong phú và tuyệt đẹp, Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình Du lịch thám hiểm, nghiên cứu, tìm tòi về với cội nguồn: Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh khi còn làm chủ tịch và Bí thư Tỉnh ủy Bắc Thái (cũ) đã hiều lần đi bộ tới Thần Sa, một hang động lớn có người nguyên thủy xa xưa sinh sống – một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở hang những công cụ ở thời kỳ đồ đá… Di tích hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà là một quần thể danh thắng nổi tiếng đẹp vào loại bậc nhất Thái Nguyên bởi phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, hang động nhiều dáng vẻ, có thác nước và suối nước trong xanh. Nơi đây còn là di tích lịch sử năm 1994 đội cứu quốc quận 2, cùng 373 gia đình rời bản về đây lập căn cứ chống Pháp. Hang ở trên đỉnh, hõm sâu xuống lòng núi, từ chân núi lên đến cửa hang phải trèo qua dải đá tai mèo nhọn hoắt, lòng hang rộng, có 2 cửa. Vách hàng, vòm hang, lòng hang có nhiều khối nhũ đá có hình dáng lân múa, voi chầu bên những vũ nữ hình tháp khổng lồ. Chùa hang nằm trong núi đá huyền ảo, hàng năm lễ hội chùa được tổ chức trọng thể vào mùa xuân, thu hút hàng vạn du khách về cầu may , cầu phúc…
Theo tour du lịch, du khách sẽ đến thăm hang Giơi, một kho lương thảo của vương triều Lý thời đánh Tống rồi tới thăm núi Vặn, núi Võ ở Đại Từ – quê hương của người anh hùng Lưu Nhân Chú với bạt ngàn những đồi chè xinh đẹp, để thưởng thức xứ chè hảo hạng ở nơi đây, quay về thành phố, du khách sẽ tham quan khu gang thép Thái Nguyên.
Du lịch Thái Nguyên còn rất non trẻ, mới được thành lập hình thành và đi vào hoạt động gần chục năm nay mà đặc trưng chủ yếu là kinh doanh nhà trọ và ăn uống thuần túy. Kinh doanh lữ hành là đặc trưng của hoạt động du lịch thì chưa làm được. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc kinh doanh du lịch của Thái Nguyên còn rất đơn sơ, chỉ có một vài điểm mới xây dựng nhưng không đồng bộ, duy nhất trong tỉnh chỉ có 1 khách sạn 5 tầng phục vụ chuyên gia thời bao cấp với 88 buồng, 170 giường nhưng đang xuống cấp và 1 nhà nghỉ ở hồ Núi Cốc nhưng với số buồng còn ít ỏi, không đủ chỗ nghỉ cho khách vào các ngày nghỉ cuối tuần, chất lượng còn thấp không đáp ứng yêu cầu của khách, nhất là khách nước ngoài. Thời mở cửa ngành Du lịch đã được tỉnh quan tâm xây thêm 1 số cơ sở mới như khách sạn sông Cầu, khách sạn Bông sen, khách sạn Hoa Hồng … Điểm du lịch hồ Núi Cốc với khu “Huyền Thoại “, “Chàng cốc”, nagf Công” đã hoạt động từ quý III/ 2000, tạo được sự hấp dẫn du khách. Nhìn chung tốc độ phát triển của du lịch Thái Nguyên còn chậm, hiệu quả kinh doanh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch; các khách sạn đều chưa được xếp sao, cả thành phố không có một bể bơi, các tụ điểm văn hóa sơ sài, đình chùa miếu mạo, chưa được tu sửa đầy đủ, kinh doanh du lịch kém có đơn vị lỗ liên tục trọng 2 – 3 năm liền vì trình độ quản lý điều hành của cán bộ còn kém, không năng động sáng tạo, không chủ động tìm thị trường. Trong năm năm (1996 – 2000), ngành du lịch mới giải quyết được việc làm cho 420 lao động, đưa đón được 238.519 lượt khách, doanh thu mới đạt 90 tỷ đồng. Du lịch Thái Nguyên tiến vào thế kỷ 21 với mục tiêu 2001 – 2005 phải giải quyết được 800 người lao động, đưa đón được 868.100 lượt khách, … đạt doanh thu 95 tỷ đồng.
Để đảm bảo đến năm 2010 đưa du lịch Thái Nguyên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động kinh doanh du lịch sẽ được tổ chức lại để đi sâu vào các ngành nghề đặc trưng của du lịch: lữ hành, khách sạn du lịch vận chuyển du lịch, thông tin du lịch, xác định quy hoạch tỉnh Thái Nguyên với các điểm du lịch chủ yếu là: Khu Bảo tàng các dân tộc Việt Nam, khu gang thép Thái Nguyên, di tích lịch sử Đội Cấn, các đền, chùa, du lịch nước trên sông Cầu. Vùng du lịch hồ Núi Cốc sẽ được mở mang để phát triển các loại hình du lịch thể thao leo núi, đua ngựa, săn bắn, thể thao, mặt nước… vùng du lịch Định Hòa, Phú Lương sẽ phát triển mạnh loại hình du lịch tham quan các di tích lịch sửu cách mạng…
Vùng du lịch Đồng Hỷ, Võ Nhai với đặc điểm có nhiều hang động sẽ được đầu tư xây dựng để phát triển du lịch thể thao, vui chơi, giải trí, nghiên cứu hang động, lâm sinh, du lịch văn hóa các dân tộc … và như vậy du lịch Thái Nguyên sẽ rất “cất cánh” bởi chính tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng của mình.
Nguyễn Chất – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Lung linh một vùng huyền thoại

Cách thành phố Thái Nguyên 15km về hướng Tây Nam theo con lộ Đán, Núi Cốc uốn lượn qua những cánh rừng bạt ngàn, Khu du lịch Núi Cốc nằm giữa khung cảnh “sơn thủy hữu tình”. Nơi đây đã nổi tiếng với nét đẹp thiên nhiên tạo tự bao năm, là cảm hứng cho bao tâm hồn thi sĩ bởi sự nguyên sơ, thanh khiết, lung linh sắc màu huyền thoại của câu chuyện tình chàng Cốc – nàng Công.
Đặt chân đến đây, du khách bị hấp dẫn ngay trước thiên nhiên kỳ thú: một bên là rừng xanh ngút mắt và một bên là mênh mông hồ nước in bóng dãy Tam Đảo. Theo dòng huyền thoại, canô sẽ đưa du khách dạo thăm 89 hòn đảo trên hồ, để được nghe về các sự tích nàng Công, chàng Cốc, Gò Chùa, Đảo Cò… và trong màn sương bảng lảng, bạn sẽ được đặt chân lên những địa danh đã đi vào truyền thuyết, sẽ được thấy tận mắt hàng ngàn chú cò trắng như mây bây về đậu kín các tán cây trên đảo. Giữa không gian trong trẻo của buổi mai, thuyền rẽ sóng cùng bạn đến thăm đền Bà Chúa Thượng Ngàn trên đảo. Những nén nhang thành kính tỏa hương để nhớ công lao người phụ nữ đã dạy bảo dân địa phương tạo lập cuộc sống tốt lành. Vì cảnh đẹp và cũng vì cả tâm linh nên hàng năm, dù ở giữa trùng khơi sóng vỗ, Đền Bà vẫn đón hàng ngàn lượt khách tìm về.
Hoàng hôn, hồ Núi Cốc rực lên trong ngàn vạn ánh vàng lấp lánh rắc xuống mặt hồ xanh thẳm. Từ phía sau những hòn đảo, bất ngờ hiện ra những cánh buồm xinh xắn, tấp nập về bến trong khoang cá nặng đầy, vẽ một nét sinh động giữa cảnh núi non hùng vĩ. Một bức tranh? Không! Đó chỉ là vẻ đẹp thường có của khu du lịch.
Nếu không muốn ru mình trong sóng nước nơi bến tắm “Hoàng Hôn”, du khách hãy thả bộ quanh khu nghỉ, trên con đường sạch sẽ, dưới những vòm cây đầy ắp tiếng chim. Gió dịu dàng như muôn bản nhạc không lời, thầm thì lãng mạn. Những công trình giải trí mang nét nghệ thuật tạc vào giữa không gian sông – núi nét vẽ rắn rỏi và hoành tráng.
Điều thú vị đến với du khách khi đến Núi Cốc còn là được thưởng thức văn hóa, ẩm thực vùng hồ – núi. Sản phẩm của hồ được chế biến thành bao món ăn thật mời mọc: ba ba, chả cá… Nhưng đặc sản núi rừng lại mang nét hấp dẫn riêng: thịt hươu nướng, dê tái, dúi hầm… lại thêm ly rượu nếp rừng thơm nức, uống đến mềm môi vẫn thấy thèm, làm cho mỗi cuộc gặp tại vùng hồ sẽ là những ấn tượng diệu hiền, da diết.
Nếu muốn, du khách hãy cùng bạn bè chèo thuyền ra một hòn đảo giữa hồ, nơi có bao cánh cò trắng bạc, những mầm lá non tươi bên các phiến đá phẳng lỳ. Vài cành củi khô chụm lại cho ngọn lửa sáng lên, làm vương vương sợi khói lam chiều và bạn sẽ có món thịt nướng tùy sở thích giữa thiên nhiên nguyên sơ và huyền bí. Thật khó quên khi đã một lần với vùng hồ, bồng bềnh trên sóng, dưới trăng, có bạn hữu hàn huyên cho đến khi trăng về gác núi.
Núi Cốc có nét sắc riêng với môi trường thanh khiết, mát mẻ về mùa hè mà lại ấm áp về mùa lạnh. Đây không chỉ là điểm du lịch lý tưởng của mùa hè mà còn là nơi thích hợp cho các kỳ nghỉ đông thơ mộng. Bởi thế, quanh năm Núi Cốc hiếm có ngày vắng khách.
Sau những ngày hưởng không khí dễ chịu của vùng hồ – núi, chắc chắn du khách sẽ có được những cảm giác sảng khoái, trẻ trung. Môi sinh của mảnh đất giàu huyền thoại này tác động rất mạnh tới mỗi người. Một kỳ nghỉ lý thú đã đến với bạn và sẽ chờ đón bạn mỗi mùa hè sau ở Khu du lịch hồ Núi Cốc – quê hương của nàng công Công – chàng Cốc.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Yếu tố quan trọng các sản phẩm du lịch

Vốn “Mồi” – Yếu tố quan trọng tạo dựng các sản phẩm du lịch
Trong hai năm 1997, 1998, do cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực, khách du lịch vào Việt Nam và Hà Nội có giảm, từ năm 1999 đến nay, lượng khách du lịch quốc tế không ngừng tăng, năm 2000 tăng 42% so với năm 1998. Tuy nhiên, ngày khách tăng không đáng kể, và số người đến du lịch lần thứ hai vẫn không tăng nhiều. Nhiều chuyên gia cho rằng, nguyên nhân là sao sản phẩm du lịch chậm đổi mới, chất lượng các dịch vụ còn thấp. Đã có không ít hội nghị , hội thảo phân tích về vấn đề này và đề xuất các giải pháp khắc phục. Giải pháp được nhiều người đề cập là tăng đầu tư vốn để tạo dựng các điểm du lịch, khu du lịch và công nghệ giải trí. Có sản phẩm du lịch mới và chất lượng các dịch vụ được nâng cao tất yếu sẽ thu hút được nhiều khách du lịch và tăng thêm được nhiều ngày lưu trú của khách. Nhưng ai đầu tư, và đầu tư như thế nào, đầu tư cho ai là một vấn đề còn nhiều mắc míu. Có người cho rằng, điều kiện hiện nay, khi có trình độ nhận thức mới bắt đầu chuyển, đầu tư cho du lịch chưa được xếp vào diện “ưu đãi” thì hoặc là những cái có sẵn chỉ cần đổi tên hoặc vẫn giữ tên cũ nhưng thay đổi một chúng nội dung bên trong. Nói cách khác thay “bình” giữ “rượu”, hoặc giữ “rượu” thay “bình” là được. Cũng có ý kiến có lý hơn là các điểm du lịch của các tỉnh, các vùng du lịch, trên cơ sở đó ra đời các tour mới chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của khách. Đồng thời vẫn phải tạo dựng ra bình và rượu mới. Đó chính là tượng trưng các sản phẩm du lịch mới. Kinh nghiệm bước đầu của Hà Nội đang minh chứng điều đó.
Năm 1999, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chỉ định một số dự án phát triển du lịch. Trong đó có dự án lựa chọn xây dựng một số thành phố văn hóa ẩm thực, một tuyến phố cổ dành cho người đi bộ; tôn tạo, nâng cấp làng nghề Bát Tràng, làng cổ Đông Ngạc để đưa vào tour du lịch. Cách giải quyết vốn cho những dự án này là: Cấp Ngân sách Nhà nước cho mỗi dự án một vài trăm triệu để lập dự án tiền khả thi. Khi dự án được phê diệt, căn cứ vào đó, các chủ nhân đầu tư huy động các nguồn vốn theo ngân sách nhiều cách như vay ưu đãi với lãi suất thấp, gọi cổ phần, liên doanh vốn với nước ngoài v.v… Dự án phố văn hóa ẩm thực tại phố Tống Duy Tân sau khi được phê duyệt đã đầu tư trên 6 tỷ đồng, hiện đang gấp rút hoàn tất một số công việc cuối cùng để khai trương trong ít ngày tới. Các dự án khai thác cũng đang phát triển theo trình tự đó. Nếu như các dự án nói trên được triển khai “suôn sẻ” thì trong tương lai gần trên địa bàn Hà Nội sẽ có một số sản phẩm du lịch mới để quảng cáo thu hút khách và sẽ ra đời các tour du lịch mới và ngày khách chắc chắn sẽ tăng lên.
Hiện nay, ngày khách quốc tế ở Hà Nội là 3 ngày, chỉ tiêu bình quân của khách là 100 USD/ngày. Dự kiến đến năm 2005 sẽ đón 850.000 khách du lịch quốc tế. Nếu ngày khách được tăng thêm 1 ngày thì doanh thu xã hội tăng thêm do kéo dài ngày lưu trú khoảng 1.200 tỷ đồng/năm. Như vậy, Nhà nước và địa phương chi ra khoảng vài ba tỷ đồng ngân sách để lập tiền khả thi một số dự án tạo ra các nguồn vốn đầu tư để thực hiện dự án tạo ra các sản phẩm du lịch mới thu hút thêm khách, thì lợi ích xã hội quả là không nhỏ.
Để du lịch phát triển mạnh mẽ, bền vững và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn không thể không tính đến đầu tư vốn bằng nhiều nguồn, mà trước hết và rất quan trọng là đầu tư “mồi” bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước để lập các sự án tiền khả thi.
Một thực đơn, một thất hứa, một mạng người.
Có một huyền thoại hơn mãi 300 năm sau vẫn còn kể về Vaten – một métđôten tầm cỡ, nổi danh những năm đầu thế kỷ 17. Vaten sinh năm 1635 người Thụy Sĩ gốc Pháp và đã tự sát năm 1671 vừa tròn 36 tuổi đời.
Chuyện kể rằng năm ấy Hoàng than Côngđê mở đại tiệc chiêu đãi via Lu – y thứ 14 và các bậc danh nhân thời đại tại lâu đài Săng-ty-li. Trong thực đơn hôm đó, Vatem cho khách ăn món cá tươi mà cả chủ lẫn khách đều thấy hợp khẩu vị.
Giờ khai mạc bắt đầu nhưng rủi sao, cá vẫn chưa được quan hầu mang tới. Vaten bồn chồn trông chờ và lo lắng đến phát điên cuồng. Không có món cá tươi đã được trân trọng ghi món chính trong thực đơn quả là một điều sỉ nhục đối với người Métđôten tài danh này. Vaten thầm nghĩ “Vậy là ta đã lừa dối bề trên vì không thực hiện được điều hứa hẹn”. Rồi hổ thẹn với lương tâm, ân hận trước trách nhiệm phục vụ, Vaten đã lặng lẽ cầm dao ăn mổ bụng tự sát. Nhưng, có ngờ đâu giữa lúc Vaten gục xuống chân bàn tiệc, máu me lai láng thì cũng là lúc một rành cá tươi vừa vặn về tới lâu đài.
Bình luận về cái chết của Vaten thời đó, có người cho rằng cách tự xử như vậy không phù hợp với tính cách người métđôten tháo vát năng động nên không đủ khả năng ứng phó với mọi tình huống không may trong lúc hành nghề Trong đời phục vụ ăn uống, mấy ai thoát khỏi rủi ro nhưng đâu đến nổi “harakin” (mổ bụng) kiểu người hùng Nhật Bản như Vaten? Cho nên dù có van bóng một thời, Vaten vẫn chỉ là một métđôten tài hoa và để hâm mộ người tài, BécSu một nhà thẫm mỹ học ăn uống kiêm nhà thơ thời đó đã viết tưởng niệm một đoạn bốn câu:
Hỡi ai đã bước vào yến tiệc
Hỡi ai tha thiết đứng chủ bữa ăn
Hãy gủi Vaten một lời thương tiếc
Nhưng nhớ đừng bắt chước Vaten.
Lê Hồng Phấn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Cần những giải pháp toàn diện – Phần 2

Những định hướng năm 2001.
Năm nay, Chính phủ đã đặt chỉ tiêu cả nước phải đưa ra được 50.000 lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Để đạt được điều này, nhiệm vụ của chúng ta là phải mở rộng hơn nữa quy mô cung ứng lao động sang những địa bàn mới. theo cục quản lý lao động với nước ngoài, bên cạnh việc ổn định và phát triển thị trường lao động hiện có, năm nay chúng ta còn tập trung nghiên cứu, phát triển thị trường các khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Trung Đông và Châu Phi. Đặc biệt , với chuyến thăm quan của Tổng thống Nga V.Putin vừa qua, triển vọng về một thị trường rộng lớn như Liên Bang Nga hết sức sáng sủa. Ngoài ra, Mỹ và Bắc Mỹ cũng là những thị trường tiềm năng.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp quy về xuất khẩu lao động và chuyên gia cần được tiếp tục bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện, nhất là một số nội dung của Nghị định 152/1999/NĐ-CP về vấn đề tài chính, bảo hiểm đối với người lao động, đặc biệt chú ý xử lý đến các trường hợp vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động. Được biết, cục quản lý lao động với nước ngoài đã phối hợp với các bộ Ngoại giao, Công an, Tư pháp xây dựng đề án chống bỏ trốn, trình chính phủ phê diệt. Các đại sứ quán, các tổ chức của Việt Nam ở nước ngoài cũng như các cơ quan đại diện và văn phòng nước ngoài ở Việt Nam sẽ là những kênh thông tin về nhu cầu số lượng, ngành nghề tiếp nhận lao động, về chính sách nhập cư để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc khảo sát thị trường, ký kết hợp đồng cung ứng lao động dưới nhiều hình thức.
Đối với 159 doanh nghiệp đã cấp phép hoạt động xuất khẩu lao động, để chấm dứt tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, cần có những biện pháp chấn chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại. Dứt khoát loại bỏ những cơ sở làm ăn không hiệu quả nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác phát triển, tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế.
Thực tiễn cho thấy, để nâng cao chất lượng hàng hóa chúng ta phải ngay lập tức thiết lập và xây dựng hệ thống trường dạy nghề, đào tạo nguồn lao động xuất khẩu. Như vậy mới đảm bảo việc đào tạo được chương trình, đủ thời gian để người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài có được trình độ tay nghề và ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu của từng thị trường lao động, thích nghi nhanh chóng với môi trường làm việc ở nước ngoài. Các yếu tố nhân thân, lý lịch… của người lao động cũng cần được xem xét kỹ càng khi tuyển dụng, vì dù sao, đây cũng là việc “đem chuông đi đấm xứ người”.
Thị xã Cửa Lò: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch
Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2001, thị xã Cửa Lò đầu tư 173 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cấp cảnh quan môi trường khu du lịch: hoàn tất việc mở rộng và kéo dài đường Bình Minh, đường Trung tâm, khu vực vui chơi giải trí, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý thu gom rác thải, trồng thêm nhiều cây xanh, tạo cảnh quan du lịch. Các hạng mục công trình đang gấp rút thi công và phấn đấu hoàn thiện trước 1/5/2001. Đồng thời Ủy ban nhân dân thị xã Cửa Lò chỉ đạo các đơn vị kinh doanh khách sạn trên địa bàn có kế hoạch đầu tư, tôn tạo nâng cấp sửa chữa cơ sở vật chất để chuẩn bị đón khách trong du lịch mùa hè 2001.
Quốc Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Cần những giải pháp toàn diện – Phần 1

Năm 2000, cả nước đã xuất khẩu 31.468 lao động và chuyên gia đi làm việc tại nước ngoài, bằng 144,3% so với năm 1999. Đây là một con số đáng khích lệ, vì cho tới năm 1995, xuất khẩu chỉ mới đạt mức 10.050 lao động. Được biết, mỗi năm, so ngoại tệ mà lao động Việt Nam chuyển về nước đã vượt qua con số 1 tỷ USD ! Năm nay, chỉ tiêu chính phủ đề ra là xuất khẩu được 50.000 lao động (chủ yếu là các ngành may, xây dựng, điện…). Liệu chỉ tiêu trên có khả thi, khi công tác xuất khẩu lao động của nước ta khá nhiều vấn đề cần được khắc phục
Nâng cao chất lượng “hàng hóa” – một yêu cầu tiên quyết.
Khi nói đến chất lượng lao động xuất khẩu, ngoài yếu tố tay nghề, khả năng tác nghiệp, còn phải xét đến các vấn đề khác như ý thức tổ chức kỷ luật, hiểu biết xã hội, ý thức tôn trọng pháp luật, phong tục tập quán cũng như các quy định quốc tế. Tuy nhiên, do công tác đào tạo và chuẩn bị nguồn lao động còn nhiều hạn chế nên chất lượng lao động Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với các nước xuất khẩu lao động truyền thống như: Phillipine, Bangladest, Indonesia, Trung Quốc… lao động của ta phần lớn từ khu vực nông thôn nên rất kém về ngoại ngữ, tay nghề và nhận thức về quan hệ chủ thợ thường rất “lờ mờ”.
Trong khi đó nhiều doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động còn đơn thuần là kinh doanh, không chú ý đến công tác đào tạo nguồn và giáo dục, định hướng cho lao động trước khi đi. Do vậy, nhiều lao động ra nước ngoài đã không chấp hành pháp luật của Việt Nam và các nước sở tại, một số còn đơn phá vỡ hợp đồng, gây thiệt hại cho doanh nghiệp và cả hai phía.
Cũng do thiếu ý thức, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộng đồng, một số bộ phận lao động còn bỏ trốn và vi phạm pháp luật của nước tiếp nhận lao động, Tại thị trường Nhật Bản, số lao động Việt Nam bỏ trốn chiếm 14,6% trong khi con số này của lao động Trung Quốc chỉ có 0,9%. Hiện nay thị trường lao động thế giới và khu vực ngày càng thu hẹp, cạnh tranh ác nước xuất khẩu lao động trở nên gay gắt hơn, yêu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài vào một số thị trường ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng cũng như ý thức kỷ luật. Việt Nam, mặc ù đã tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động hơn 20 năm, nhưng so với các nước xuất khẩu lao động truyền thống thì vẫn còn yếu thế hơn. Điểm mạnh của lao động Việt Nam là cần cù, chăm chỉ, giá cả phải chăng. Tuy nhiên, chúng ta cũng không dễ dàng khi các nước có nhu cầu và kinh nghiệm xuất khẩu lao động của mình, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Do đó, lợi thế về giá nhân công của Việt Nam đang mất dần. trên thế giới, ở nhiều đại bàn đã hình thành hệ thống hợp tác và phân bố lao động giữa các nước trong khu vực, ví dụ như các nước EU, các nước thuộc khối hợp tác kinh tế Châu Phi, các nước khu vực Bắc Mỹ và Caribê. Thậm chí, ngay cả Đông Nam Á, các nước như: Malaysia, Singapre, Bruney cũng chỉ nhận lao động từ các nước xuất khẩu lao động truyền thống như: Phillipine, Indonesia, Ấn Độ. Cũng chính vì lý do nói trên, việc mở rộng thị trường lao động ngoài nước đối với lao động Việt Nam hiện nay càng trở nên khó khăn. Trong khi đó, chúng ta chưa đầu như nghiên cứu, khai thác các thị trường tiềm năng mà chỉ tập trung vào một vài thị trường có sẵn như: Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, LiBi…
Quốc Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Suối khoáng Mỹ Lâm

Cách trung tâm thị xã Tuyên Quang 13km về phía Đông Nam, con đường quanh co uốn lượn bên sường núi dẫn vào khu nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm thật yên bình, thơ mộng. Những nếp nhà sàn đơn sơ của đồng bào Cao Lan thấp thoáng giữa màu xanh biếc của rừng cọ, đồi chè và tiếng chim ca rộn rã như mời gọi du khách hay ghé thăm cuộc sống thật giản dị và gần gũi với thiên nhiên nơi đây. Du khách có dịp đến Tuyên Quang đều mong muốn được một lần đến suối khoáng Mỹ Lâm để dắm mình trong làn nước trong trẻo, ấm áp mà thiên nhiên ban tặng.
Suối khoáng Mỹ Lâm có nguồn nước khoáng sunfua ngầm trong lòng đất, được hát hiện từ thập niên 60. Năm 1965, khu nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm được xây dựng trên ngọn đồi thoai thoải nơi có dòng suối Mỹ Lâm chảy qua thật hữu hiệu cho việc chữa bệnh. Hiện nay, khu nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm mở rộng phục vụ khách du lịch với giá vé 10.000đồng cho tắm nước khoáng và tắm bùn; 25.000 đồng cho dịch vụ mát –sa. Bạn sẽ cảm nhận được thiên nhiên thật ưu ái con người khi ngâm mình trong bồn tắm ngập tràn nước khoáng ấm áp và được ngắm nhìn những khóm hoa rực rỡ đang khoe hương sắc trong ánh ban mai. Nước khoáng luôn điều hòa và giữ ấm ở nhiệt độ 40 – 42oC luôn mang đến cho cơ thể bạn cảm giác khoan khoái, dễ chịu. đặc biệt, tại đây còn có 3 bể ngâm, tắm bùn khoáng, phục vụ cùng lúc khoảng 50 du khách. Bùn khoáng được tạo nên từ đất thịt đã loại bỏ tạp chất và ngâm trong nước khoáng một tháng. Sau đó, trong quá trình sử dụng, bùn khoáng vẫn tiếp tục ngâm và thay nước hàng ngày để đạt tới chất lượng cao nhất. tắm à ngâm bùn khoáng sunfua đã chữa khỏi bệnh đau khớp, đau dây thần kinh, mang lại niềm vui và sức khỏe cho biết bao người bệnh.
Ông Nguyễn Văn Thịnh, Giám đốc khu nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm cho biết: “Để đáp lại lòng yêu mến của du khách dành cho suối khoáng Mỹ Lâm, UBND tỉnh Tuyên Quang đã đầu tư 4,4 tỷ đồng để nâng cấp và xây mới các phòng tắm tiện nghi, có bồn tắm thủy lực tạo sống, xây dựng thêm một số phòng nghỉ để phục vụ du khách có nhu cầu nghỉ qua đêm tại đây. Công trình này dự định tháng 5/2001 sẽ đưa vào phục vụ khách du lịch.
Du khách trong và ngoài nước đến suối khoáng Mỹ Lâm không những không thấy sảng khoái, thư giãn sau những ngày làm việc căng thẳng khi được tắm, ngâm nước khoáng nóng, bùng khoáng mà còn thích thú và phong cảnh thiên nhiên yên ả và những con người hiền hậu, mến khách nơi đây. Du khách cũng đặc biệt thích thú khi thưởng thức hương vị ngọt ngào, thơm dịu của lúa nếp nương cùng vị đậm đà của vùng đèn trong những ống cơm lam do những cô sơn nữ khéo léo nướng vừa chín tới.
Vài năm trở lại đây, suối khoáng Mỹ Lâm đang ngày càng trở nên hấp dẫn đối với du khách. Trong tương lai gần, khu nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm sẽ mở rộng hơn nữa với các hạng mục xây dựng như: nhà nghỉ mini, bể bơi, phòng karaoke, sàn nhảy, tạo dựng cảnh quan… để có thể đáp ứng mọi nhu cầu vui chơi giải trí. Khi đó du khách đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng chắc chắn sẽ vượt qua con số 60 ngàn lượt khách mỗi năm như hiện nay.
Lễ hội Yên Thế.
Sáng ngày 16/3/2001 (tức 22/2 năm Tân Tỵ) tại khu di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám, thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã khai lễ hội kỷ niệm lần thứ 117 năm ngày khởi nghĩa của nông dân Yên Thế, do Ủy ban nhân dân huyện Yên Thế tổ chức. Đến lễ hội có đông đảo khách từ Trung ương và khắp các tỉnh, thành. Chương trình lễ hội diễn ra trong ba ngày với các hoạt động: hội trại, lễ dâng hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám, các hoạt động vui chơi (giải võ, vật mở rộng, giải bắn cung, nỏ, chọi gà, cờ tướng, cờ người, múa kỳ lân…), giải bóng đá các đội mạnh , liên hoan tiếng hát các dân tộc, thăm nhà trưng bày khởi nghĩa Yên Thế và các đền, chùa, di tích lịch sử, xem đoàn chèo Bắc Giang biểu diễn.
Thủy Tiên – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11 (176) – 2001

Hướng dẫn xanh từ A đến G cho di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long

Cách đây 7 năm vào tháng 12/1994, tổ chức UNESCO đã công nhận vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) là một di sản thiên nhiên của nhân loại, bởi nó không chỉ là một thắng cảnh đẹp mà còn chứa đựng những giá trị nổi bật về địa chất, sự đa dạng sinh học và những giá trị văn hóa… Từ đó đến nay đã có rất nhiều du khách từ khắp mọi nơi trên thế giới đến đây để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hiếm có của di sản này. Tuy nhiên, cũng chính vì điều đó và do có những nhận thức khác nhau mà môi trường ở Hạ Long đang bị thay đổi và có thể sẽ tiếp tục bị thay đổi. Để góp phần tích cực đảm bảo cho du lịch Hạ Long phát triển một cách bền vững và bảo vệ môi trường của vịnh Hạ Long, mới đây tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN (World Conservation) tại Việt Nam đã thảo luận và đưa ra “Hướng dẫn xanh từ A đến G” với một mong muốn rằng có thể bảo vệ di sản thiên nhiên thế giới có một không hai này. Dưới đây là những hướng dẫn từ A đến G.
Accept (Hãy có) trách nhiệm đối với cảnh quan môi trường mà bạn đang thăm viếng.
Be aware (Nhận thức) được những tác động (xấu) của bạn đối với môi trường và xã hội. Cố gắng giảm thiểu những tác động (xấu) này.
Choose (Chọn) các cơ sở điều hành du lịch mà họ có quan điểm bảo vệ môi trường và văn hóa, và nói với các cơ sở du lịch đang cạnh tranh với họ vì lý do trên.
Donot (Đừng làm) những điều mà bạn không bao giờ làm ở nhà.
Explain (Giải thích) những hành vi cư xử của bạn cho các khách du lịch và những người làm trong ngành Du lịch.
Find out (Khám phá) và tìm hiểu nhiều hơn về nơi bạn tham quan bằng cách không lấy đi những thứ mà bạn chỉ tìm thấy trước mắt.
Guide (Hướng dẫn) cho những người không được giáo dục như bạn bằng cách nêu gương tốt bằng chính những hành vi ứng xử của mình.
Hướng dẫn này mong được tất cả các du khách, những người dân địa phương và những người làm trong ngành Du lịch biết đến. Hướng dẫn nhấn mạnh rằng hành vi của mỗi du khách ở vịnh Hạ Long sẽ tạo nên sự thay đổi lớn trong tương lai. Vì vậy hãy cùng nhau bảo vệ môi trường của di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long cho các thế hệ sau chúng ta và cho những lần viếng thăm tới của chính mình. Muốn làm được như vậy cách đơn giản nhất là làm theo “Hướng dẫn xanh từ A đến G”.
Ông peter dewson
(48 tuổi – Chuyên gia y tế cộng đồng bang Albanis – Western – Australia)
Ông đã từng đi nhiều tỉnh ở Việt Nam, ấn tượng sâu sắc nhất về du lịch đối với ông là gì?
Đó là các làng nghề, Việt Nam có rất nhiều làng nghề với sản phẩm đa dạng và đẹp. Tôi đã đến Bát Tràng (Gia Lâm), Vân Hà (Đông Anh), Vạn Phúc (Hà Đông)… mỗi nơi tôi đều mua những sản phẩm của làng làm kỷ niệm.
Ông tiếp cận các làng nghề đó với tư cách là khách du lịch?
Nếu thế, có lẽ tôi ít được biết đến các làng nghề của Việt Nam. Tôi tiếp cận với tư cách hoạt động xã hội kết hợp với du lịch. Rất ít khách du lịch nước ngoài biết đến làng nghề Việt Nam với chiều sâu văn hóa vốn có. Chẳng hạn, bạn bè tôi nói sản phẩm gốm của Bát Tràng còn xa mới bằng của Nhật, Trung Quốc; Tôi đã nói với họ rằng sản phẩm gốm của Bát Tràng ngoài giá trị sử dụng còn có giá trị về văn hóa, lịch sử, mà phải tiếp cận trên trên chính mảnh đất làng với các nghệ nhân mới có thể cảm nhận được. Họ đều lấy làm tiếc vì không có may mắn đó.
Theo ông, làm thế nào để tăng khả năng tiếp cận của du khách nước ngoài với văn hóa làng nghề Việt Nam?
Tôi chỉ có thể góp ý kiến: chẳng hạn các Công ty lữ hành không chỉ chú ý giới thiệu và tổ chức đến những điểm du lịch lớn mà cần tăng cường giới thiệu thêm các loại hình du lịch khác, trong đó có du lịch làng nghề. Nhưng tôi nghĩ, khả năng này khó bởi các làng nghề Việt Nam phân bố rải rác, đường sá không thuận lợi, chỗ ăn nghỉ chưa có… Còn làm thế nào để thu hút du khách đến với các làng nghề là việc của các công ty du lịch.
Xin cảm ơn ông!
Đỗ Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001